Quảng Cáo
0943778078
Nghiên cứu trên hơn 241.000 người cho thấy người ung thư máu có nguy cơ mắc zona cao gấp 3,74 lần do bệnh và quá trình điều trị làm suy yếu miễn dịch.
Nghiên cứu đăng tại The Journal of Infectious Diseases trên người trưởng thành tại Australia từ năm 2006 đến 2015, ghi nhận 20.286 ca ung thư mới và 16.350 trường hợp zona. Kết quả cho thấy người mắc ung thư huyết học có nguy cơ bị zona cao gấp 3,74 lần người không mắc ung thư.
Ở nhóm có khối u đặc, nguy cơ tăng khoảng 30%; riêng người đang hóa trị có nguy cơ cao hơn 83% so với người không mắc ung thư. Theo nhóm nghiên cứu, nguy cơ ở bệnh nhân ung thư huyết học tăng ngay cả trước thời điểm chẩn đoán, còn ở người có khối u đặc chủ yếu liên quan đến quá trình hóa trị.
Vì sao ung thư làm tăng nguy cơ zona?
BS.CKI Bạch Thị Chính, Giám đốc Y khoa, Hệ thống Tiêm chủng VNVC, cho biết zona do virus varicella zoster (VZV) tái hoạt. Đây cũng là virus gây thủy đậu. Sau khi người bệnh khỏi thủy đậu, virus không bị loại bỏ hoàn toàn mà nằm tiềm ẩn trong các hạch thần kinh trong nhiều năm.
Ở người khỏe mạnh, miễn dịch tế bào, đặc biệt là tế bào lympho T, giúp kiểm soát virus. Khi khả năng này suy yếu do tuổi tác, bệnh lý hoặc điều trị, VZV có thể tái hoạt và gây zona.
Cụ bà 72 tuổi ở Hà Nội bị zona thần kinh trên nền bệnh lý u lympho. Ảnh: Bệnh viện E
Ung thư máu như bệnh bạch cầu, u lympho và đa u tủy ảnh hưởng trực tiếp đến tế bào máu và hệ miễn dịch nên nguy cơ thường cao hơn. Với các khối u đặc, mức độ nguy cơ phụ thuộc loại ung thư, tuổi, bệnh nền và phương pháp điều trị.
Hóa trị có thể làm giảm số lượng tế bào máu do ảnh hưởng đến tủy xương. Xạ trị, thuốc corticoid liều cao, một số thuốc điều hòa hoặc ức chế miễn dịch và ghép tế bào gốc cũng có thể làm thay đổi khả năng chống lại tác nhân gây bệnh. Tuy nhiên, mức độ suy giảm miễn dịch khác nhau ở từng người và từng giai đoạn điều trị.
Một nghiên cứu trên 17.655 bệnh nhân tại Nhật Bản cho thấy nhóm được xạ trị có nguy cơ mắc zona cao gấp 2,59 lần nhóm không xạ trị. Trong số người phát bệnh sau xạ trị, tổn thương zona cũng xuất hiện tại vùng từng chiếu xạ nhiều hơn.
Zona có thể nặng hơn ở người bệnh ung thư
Zona thường khởi đầu bằng cảm giác nóng rát, châm chích hoặc đau ở một vùng da, sau đó xuất hiện các mụn nước thành cụm hoặc thành dải dọc theo đường đi của dây thần kinh. Tổn thương thường nằm ở một bên cơ thể.
Ở người suy giảm miễn dịch, biểu hiện có thể không điển hình, kéo dài hoặc xuất hiện liên tiếp nhiều đợt mụn nước mới. Tổn thương có thể vượt khỏi một vùng thần kinh, lan rộng trên da hoặc hiếm gặp hơn là ảnh hưởng các cơ quan nội tạng.
Nếu virus tái hoạt ở dây thần kinh vùng mắt hoặc tai, người bệnh có thể giảm thị lực, giảm thính lực, liệt mặt, chóng mặt hoặc mất thăng bằng. Virus lan theo đường máu và thần kinh có thể gây viêm phổi, viêm màng não, viêm não hoặc tổn thương mạch máu.
Biến chứng thường gặp là đau thần kinh sau zona. Cơn đau có thể kéo dài nhiều tháng hoặc nhiều năm sau khi tổn thương da đã lành, ảnh hưởng giấc ngủ, vận động và chất lượng sống. Với bệnh nhân ung thư, zona và các biến chứng còn có thể làm gián đoạn kế hoạch điều trị bệnh chính.
Dự phòng và điều trị
Bác sĩ Chính khuyến cáo người bệnh ung thư cần báo ngay cho bác sĩ điều trị hoặc đến cơ sở y tế khi xuất hiện cảm giác bỏng rát, châm chích kèm mẩn đỏ hoặc mụn nước khu trú một bên cơ thể.
Người bệnh cần khám khẩn trương nếu tổn thương nằm ở mặt, mắt, tai hoặc lan ra nhiều vùng; kèm sốt, đau đầu nhiều, khó thở, lú lẫn, yếu liệt. Thuốc kháng virus đạt hiệu quả tốt nhất khi được sử dụng sớm, thường trong 72 giờ đầu từ khi phát ban. Người bệnh không nên đắp lá, vẽ khoán hoặc áp dụng mẹo dân gian làm chậm điều trị.
Người bệnh bị suy giảm miễn dịch hơn 40 tuổi tiêm vaccine để phòng ngừa zona thần kinh tại VNVC. Ảnh: Hoàng Dương
Việt Nam hiện lưu hành vaccine ngừa zona thần kinh Shingrix. Đây là vaccine tái tổ hợp được chỉ định cho người lớn từ 50 tuổi trở lên hoặc nhóm nguy cơ phù hợp, trong đó có người suy giảm miễn dịch do bệnh lý hay điều trị. Các nghiên cứu ghi nhận vaccine có hiệu quả phòng zona cao, hơn 90% ở người từ 50 tuổi trở lên có miễn dịch bình thường; mức hiệu quả ở người suy giảm miễn dịch thay đổi theo bệnh lý và phác đồ điều trị.
Người bệnh ung thư không nên tự quyết định thời điểm tiêm. Nếu có thể, vaccine nên được tiêm trước khi bắt đầu hóa trị, xạ trị hoặc liệu pháp gây suy giảm miễn dịch để cơ thể có thời gian tạo đáp ứng. Nếu đã điều trị, bác sĩ cần cân nhắc loại ung thư, phác đồ, mức độ ức chế miễn dịch và tình trạng sức khỏe để lựa chọn thời điểm phù hợp.
Người đang hóa trị, dùng thuốc ức chế miễn dịch, điều trị ung thư máu hoặc đã ghép tế bào gốc cần trao đổi đồng thời với bác sĩ ung thư và bác sĩ tiêm chủng. Người bệnh không tự ý trì hoãn hoặc thay đổi phác đồ điều trị ung thư để tiêm vaccine.
Bên cạnh tiêm chủng, người bệnh cần tuân thủ điều trị, ngủ đủ, vận động phù hợp thể trạng và hạn chế tiếp xúc trực tiếp với dịch từ mụn nước của người mắc thủy đậu hoặc zona. Zona không lây trực tiếp thành zona cho người khác, nhưng dịch mụn nước có thể truyền VZV và gây thủy đậu ở người chưa có miễn dịch.
Hoàng Yến







