Hệ lụy từ video ngắn: Video ngắn có thật sự khiến người ta hạnh phúc?

33 minutes ago 6
Quảng Cáo

0943778078

Video ngắn có thật sự khiến người ta hạnh phúc? - Ảnh 1.

Tràn lan các video ngắn trên mạng, trong đó có không ít nội dung rác, vô bổ - Ảnh: ĐẬU DUNG

Nhưng video ngắn có thật sự khiến con người hạnh phúc?

Trong kỷ nguyên kỹ thuật số, sự bùng nổ của các nền tảng mạng xã hội chia sẻ video ngắn (như TikTok, Facebook Reels, YouTube Shorts…) đã và đang làm thay đổi hoàn toàn thói quen giải trí, tiếp nhận thông tin của hàng triệu người dùng, thậm chí nhiều người tiêu tốn hàng giờ đồng hồ mỗi ngày để "lướt" màn hình liên tục.

Dù mang lại khả năng kết nối nhanh chóng và tính giải trí cao, loại hình này đang bộc lộ vô số mặt tối, gióng lên hồi chuông cảnh báo về sức khỏe tâm lý, thể chất của người dân và an ninh thông tin trên không gian mạng.

Hệ lụy từ video ngắn là tuyến bài nêu lên thực trạng video ngắn trên các nền tảng mạng xã hội như dùng AI để phát tán thông tin giả, gây nghiện, gây nhiều hệ lụy sức khỏe người dân, phát tán thông tin bịa đặt…

Qua thực trạng, các chuyên gia và nhà quản lý thông qua báo Tuổi Trẻ sẽ phần nào giúp người dân nâng cao nhận thức khi tham gia mạng xã hội, cảnh báo rủi ro về các nền tảng video ngắn, thời gian sử dụng để bảo vệ sức khỏe; cảnh giác trước thông tin rác, sai sự thật; hậu quả pháp lý của việc sai phạm; vấn đề lan truyền thông tin xấu độc; việc lợi dụng mạng xã hội để công kích cá nhân, tổ chức.

Bài 1: Khi đời tư trở thành 'mồi câu' trên video ngắn

Bài 2: Video ngắn có thật sự khiến người ta hạnh phúc?

Video ngn khiến người ta 'nghin'

Trao đổi với Tui Tr, chuyên gia an ninh mạng Ngô Minh Hiếu (Hiếu PC) giải thích lý do video ngắn lại có khả năng "gây nghiện".

Video ngắn dễ tạo vòng lặp sử dụng "cưỡng bức": nội dung ngắn, vuốt vô hạn, phần thưởng mới xuất hiện liên tục và gần như không có "điểm dừng".

Trong khi đó thuật toán liên tục được "huấn luyện" từ thời gian xem, mức độ quan tâm của người dùng… để dự đoán clip nào khiến người dùng tiếp tục ở lại. TikTok và YouTube đều công khai việc sử dụng các tín hiệu hành vi kiểu này trong hệ thống đề xuất.

Theo PGS.TS Nguyễn Văn Thăng Long - Phó chủ nhiệm bộ môn truyền thông chuyên nghiệp, Đại học RMIT Việt Nam, video ngắn khai thác rất tốt cơ chế trên nhờ dòng nội dung vô tận, nhịp dựng nhanh, âm thanh bắt tai, tiêu đề gây tò mò và thuật toán cá nhân hóa. 

Nhiều clip có thể bình thường, nhưng chỉ cần xuất hiện một clip thật hợp gu là người dùng lại tiếp tục ở lại.

Ở góc độ tâm lý học, TS Lã Linh Nga - Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Ứng dụng khoa học tâm lý - giáo dục - cho rằng các video/clip ngắn được đề xuất dựa trên phân tích tâm lý người dùng ưa thích/quan tâm nội dung gì.

"Được xem những cái mình thích khiến não bộ tiết ra hormon phần thưởng dopamine, thúc đẩy tiếp tục xem và khó thoát ra, có thể không nhận ra bản thân đã dành rất nhiều thời gian để xem các video (dù ban đầu không dự định như vậy)", chị nói.

Video ngắn có thật sự khiến người ta hạnh phúc? - Ảnh 2.

Nhiều người mở video ngắn rồi lướt từ video này tới video khác không ngừng nghỉ - Ảnh chụp màn hình: ĐẬU DUNG

Video ngắn có thật sự khiến người ta hạnh phúc? - Ảnh 3.

Không đếm xuể những video ngắn dạng này trên mạng - Ảnh chụp màn hình: ĐẬU DUNG

Trong đó thông tin 15-30 giây mang lại sự thỏa mãn tức thì và hầu như không đòi hỏi phải tư duy, suy nghĩ tìm hiểu vấn đề. Theo chuyên gia tâm lý này, "giống như các loại gây nghiện khác, khi đạt được trạng thái vui vẻ, kích thích liên tục mà không cần bỏ nhiều công sức, con người có xu hướng tiếp tục hành vi và não dần quen với kiểu dopamine nhanh này".

Song cũng vì thế mà não bộ "lười" đi, không muốn thực hiện các hoạt động đòi hỏi nhiều thời gian và công sức hơn, đặc biệt nguy cơ đối với trẻ em và vị thành niên - đang tuổi cần học tập và rèn luyện, chỉ muốn nằm lướt mạng.

Đáng nói ranh giới kỹ thuật giữa việc "cá nhân hóa trải nghiệm" và "thao túng hành vi người dùng" không phải lúc nào cũng minh bạch.

"Nếu giúp người dùng tìm thứ họ thực sự muốn xem và cho phép họ dễ dàng điều chỉnh, từ chối, thoát ra, đó là cá nhân hóa. Nhưng nếu khai thác điểm yếu tâm lý, làm mờ điểm dừng hoặc tiếp tục đẩy nội dung dù người dùng đã thể hiện không muốn xem, thì đã tiến gần sang thao túng hành vi", Hiếu PC lưu ý.

Chuyên gia an ninh mạng này dẫn một nghiên cứu năm 2026 về TikTok cho thấy tín hiệu "không quan tâm" có thể khó tiếp cận và việc thoát khỏi một nhóm nội dung không phải lúc nào cũng dễ dàng.

Video ngắn có thật sự khiến người ta hạnh phúc? - Ảnh 4.

Đồ họa: ĐẬU DUNG

Các nn tng không vô can!

Nguy hiểm hơn, công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI) phát triển đột phá đang bị các đối tượng xấu trục lợi để thực hiện tin giả, Deepfake (giả mạo khuôn mặt, giọng nói y như thật), kịch bản tạo dựng bằng AI trên các nền tảng video ngắn nhằm công kích cá nhân, bôi nhọ tổ chức, lan truyền thông tin xấu độc, "rác" mạng.

Theo chuyên gia Hiếu PC, tin giả AI trên video ngắn dễ đánh lừa công chúng hơn. Bởi nó đánh đồng thời vào mắt, tai và cảm xúc, trong khi người xem chỉ có vài giây để đánh giá.

Theo anh, khi một thông tin được lặp đi lặp lại qua nhiều clip và nhiều tài khoản, sự quen thuộc còn có thể làm nó trở nên "có vẻ đúng" hơn.

Chuyên gia này nhận định AI đã "công nghiệp hóa" tin giả khi một người giờ có thể dùng AI để viết kịch bản, dịch sang nhiều ngôn ngữ, tạo hình ảnh/video, giả giọng, giả danh tính và sản xuất hàng loạt biến thể với chi phí rất thấp.

Các báo cáo an ninh ghi nhận AI trở thành "đòn bẩy" giúp tác nhân xấu tăng tốc và mở rộng quy mô sản xuất nội dung, giả mạo và hoạt động gây ảnh hưởng.

Trong khi đó điểm mù lớn nhất của kiểm duyệt là máy phát hiện luôn phải chạy sau công nghệ tạo giả. Một benchmark thực tế năm 2025 cho thấy hiệu năng của các bộ phát hiện deepfake nguồn mở giảm rất mạnh khi gặp video ngoài đời thực, với AUC của video giảm khoảng 50% so với các bộ dữ liệu chuẩn.

Hơn nữa, một video có thể là hình ảnh thật nhưng bị gắn lời bình, âm thanh hoặc ngữ cảnh giả - lúc đó bài toán không còn đơn thuần là "phát hiện pixel giả".

"Vì vậy các nền tảng không thể nói là hoàn toàn vô can. Họ không phải người tạo mọi tin giả, nhưng thuật toán của họ quyết định nội dung nào được khuếch đại tới hàng triệu người", chuyên gia an ninh mạng này cho biết và nói thêm "rủi ro từ hệ thống đề xuất, AI tạo sinh và thao túng dư luận là trách nhiệm mà các nền tảng lớn phải đánh giá và giảm thiểu".

Lướt TikTok, dễ dàng bắt gặp hàng loạt phim ngắn, video ngắn - Ảnh chụp màn hình: ĐẬU DUNG

Sau "nghin" là…

Chuyên gia Nguyễn Văn Thăng Long lưu ý "dopamine" tiết ra từ xem video ngắn không phải là "hormone hạnh phúc" bền vững.

Một nghiên cứu gần đây tại Trung Quốc đã đề xuất khái niệm "TikTok brain", chỉ trạng thái não bộ liên tục thèm khát những kích thích tức thời. Thời lượng sử dụng video ngắn càng cao thì mức độ thèm dopamine và nguy cơ hình thành hành vi "nghiện" càng lớn.

Họ kém nhạy cảm hơn với rủi ro mất mát và có xu hướng ra quyết định nhanh, bốc đồng hơn. Và trải nghiệm chìm đắm trong nội dung video ngắn đi kèm cảm giác mất khái niệm thời gian, không gian. Đó là các đặc trưng vốn thường thấy ở các hành vi gây nghiện khác như cờ bạc hay lạm dụng chất kích thích.

Video ngắn có thật sự khiến người ta hạnh phúc? - Ảnh 7.

Loạt video ngắn sử dụng AI - Ảnh: ĐẬU DUNG

Dưới góc độ văn hóa truyền thông đại chúng, ông Long cho rằng video ngắn đang đưa việc tiêu thụ thông tin về nhịp độ "nhanh - gọn - cảm xúc" một cách thiếu chiều sâu, cắt ghép thông tin tùy tiện, đôi khi thiếu kiểm chứng. Hình thành "guồng máy ngụy tạo hiện thực" (Tin giả - nội dung AI phái sinh - thuật toán) nhốt người dùng vào các bong bóng thông tin khiến họ liên tục bị vây hãm bởi các nội dung sai lệch tương tự.

"Điều được lan truyền mạnh chưa chắc là điều quan trọng hay đáng tin nhất, mà thường là nội dung gây sốc, gây giận dữ, gây sợ hãi, hoặc tạo cảm giác gần gũi, FOMO buộc phải xem. Và chính video và thuật toán đang chọn giữ chân con người bằng cách cho họ xem, nghe những thứ gây nghiện có lợi cho nền tảng, chứ không chỉ liên quan tới những thứ họ thực sự cần biết", ông bình luận.

Chuyên gia này gọi đây là hiện tượng "cơn đói dopamine số", điều này bắt đầu có cơ sở thực chứng từ các nghiên cứu khoa học về thần kinh và tâm lý học truyền thông gần đây.

Read Entire Article