Quảng Cáo
0943778078
Thượng sĩ Sirotinin tình nguyện cầm chân đoàn xe đối phương, giúp trung đoàn rút lui an toàn trong những ngày đầu phát xít Đức xâm lược Liên Xô.
Ngày 22/6/1941, phát xít Đức phát động chiến dịch Barbarossa nhằm vào Liên Xô và cũng là cuộc xâm lược có quy mô lớn nhất lịch sử loài người. Các mũi tiến quân chớp nhoáng cho phép lực lượng Đức thọc sâu vào lãnh thổ Liên Xô, khiến nhiều đơn vị Hồng quân rơi vào tình thế nguy ngập.
Theo tài liệu từ Kho lưu trữ Trung ương của quân đội Liên Xô, một trong những tình huống như vậy đã nảy sinh ở thành phố Mogilev, ngày nay thuộc Belarus, ngày 15/7/1941.
Các sư đoàn Liên Xô thuộc Tập đoàn quân số 4, 13 và 20 phải nỗ lực ngăn chặn mũi tiến công của Sư đoàn Xe tăng số 2 cùng Quân đoàn Cơ giới số 24 và 46, khi đó nằm dưới quyền chỉ huy của tướng Heinz Guderian.
Lực lượng Đức tại Liên Xô hồi năm 1941. Ảnh: War History Online
Heinz Wilhelm Guderian là người tiên phong trong chiến tranh thiết giáp, cũng là một trong những người đầu tiên phát triển chiến thuật phối hợp xe tăng và bộ binh cơ giới. Từ nền tảng này, Guderian đã xây dựng nên học thuyết "Bliztkrieg" (chiến tranh chớp nhoáng), mang lại thành công cho quân đội phát xít Đức trong giai đoạn đầu Thế chiến II.
Lợi dụng điểm yếu trong hệ thống phòng thủ Liên Xô, quân đội Đức đã chọc thủng phòng tuyến ở một số nơi, trong đó Sư đoàn Xe tăng số 10, Sư đoàn Xe tăng số 2 cùng Sư đoàn Xe tăng số 4 đã lần lượt đột phá ở phía bắc, trung tâm và phía nam thành phố Mogilev.
Nhận thấy mối đe dọa nghiêm trọng, giới chỉ huy Liên Xô ở Mặt trận phía Tây bắt đầu cho rút quân về phía sông Sozh. Các chỉ huy Đức quyết định tận dụng tình hình để chiếm thị trấn Krichev.
Nhiệm vụ chính trong cuộc tấn công được giao cho lực lượng xung kích của đại tá Heinrich Eberbach, thuộc Tiểu đoàn số 1, số 2 của Trung đoàn Xe tăng số 35 và Tiểu đoàn Tình báo số 7. Ngày 15/7/1941, lực lượng xung kích tiếp tục đánh bật đối phương và chiếm các cây cầu bắc qua sông Pronya, đẩy lực lượng còn lại của Hồng quân sang bờ đông sông Sozh.
Con đường đến Krichev đã rộng mở và lực lượng Đức chỉ còn cách thị trấn gần 50 km, nhưng đại tá Eberbach không vội vàng.
Do tốc độ tiến quân quá nhanh, các đơn vị hỗ trợ và bộ binh, trong đó có pháo binh, đã bị tụt lại phía sau. Điều này khiến quân đội phát xít Đức chưa có lực lượng để khôi phục cây cầu bị đánh sập phía trước, trong khi các xe tăng cũng cần được sửa chữa và bảo dưỡng.
Pháo M1939 cỡ nòng 76 mm do Liên Xô sản xuất trưng bày tại bảo tàng ở Phần Lan hồi năm 2006. Ảnh: Wikimedia
Tiểu đoàn số 1 của Trung đoàn Xe tăng số 35 được rút khỏi lực lượng xung kích để thực hiện công việc kỹ thuật. Điều này khiến đại tá Eberbach chỉ còn lại Tiểu đoàn số 2, đơn vị vốn có vai trò thiên về công tác tình báo, trong lực lượng xe tăng.
Ngày 16/7/1941, quân Đức tiến về Krichev mà không chờ lực lượng hỗ trợ chính. Đội hình gồm Tiểu đoàn 2 thuộc Trung đoàn Xe tăng 35, Đại đội 1 thuộc Tiểu đoàn Môtô số 34, Tiểu đoàn 2 thuộc Trung đoàn Bộ binh 12, Tiểu đoàn 1 và 3 thuộc Trung đoàn Pháo binh 103, Tiểu đoàn 79 thuộc Trung đoàn Bộ binh 12, một tiểu đoàn tiên phong, các thành phần thuộc một sư đoàn cầu phao, cùng một khẩu đội phòng không hạng nặng và một khẩu đội phòng không hạng nhẹ.
Họ đã có vài cuộc đụng độ ngắn với bộ binh Liên Xô trên đường tiến quân. Đến tối, lực lượng Đức tiến vào Cherikov, khu dân cư cuối cùng trước khi đến thị trấn Krichev.
Sáng 17/7/1941, một nhóm trinh sát - cảnh giới thuộc Tiểu đoàn Tiên phong 79 rời làng Cherikov, mang theo xe tăng hạng nhẹ Panzer I và thiết giáp chở quân SdKfz 251/12. Nhiệm vụ chính của họ là trinh sát, xác định tọa độ các điểm hỏa lực của đối phương.
Cũng trong sáng 17/7/1941, tại khu vực làng Sokolnichi, một nhóm lính Hồng quân bắt đầu ngụy trang cho khẩu pháo 76 mm ở gần cây cầu bắc qua sông Dobrost trước khi rời đi. Sĩ quan chỉ huy muốn cử hai quân nhân ở lại cùng pháo. Thượng sĩ Nikolay Sirotinin tình nguyện làm nhiệm vụ và người chỉ huy cũng ở lại cùng anh.
Nhiệm vụ chính của họ là cản bước tiến của đoàn xe Đức, yểm trợ cho Trung đoàn 409 thuộc Sư đoàn Bộ binh 137 đang rút lui.
Khẩu pháo đặt ở vị trí thuận lợi, có thể quan sát rõ tuyến cao tốc và cây cầu. Xung quanh con đường là đầm lầy, khiến khí tài quân sự hạng nặng không thể chuyển hướng hay đi ra lề đường.
Vị trí của Sirotinin (khoanh đỏ). Đồ họa: Belarus Today
Không lâu sau, đoàn xe quân sự Đức xuất hiện trên tuyến đường chính, gồm các xe tăng hạng nhẹ và thiết giáp chở quân. Ngay khi xe tăng đầu tiên tiến lên cầu, khẩu đội pháo Hồng quân lập tức khai hỏa và vô hiệu hóa mục tiêu.
Viên đạn thứ hai được Sirotinin bắn đi sau đó một lúc, khiến thiết giáp chở quân đi cuối đoàn bốc cháy. Khoảng cách đến mục tiêu là 200-250 m.
Theo các nhân chứng, người chỉ huy hỗ trợ hiệu chỉnh đường đạn vào đầu trận chiến, nhưng đã rời đi sau khi xe chốt đoàn của Đức bị bắn cháy. Thượng sĩ Sirotinin tự nguyện ở lại chiến đấu một mình.
Đoàn xe Đức chôn chân tại chỗ, không thể rời khỏi tuyến đường chính vì vướng đầm lầy. Với khoảng 60 quả đạn sẵn có, Sirotinin không ngừng nã pháo vào mục tiêu. Một vài xe tăng cố gắng thoát khỏi vùng pháo kích, song lại sa xuống đầm lầy.
Các nhân chứng kể lại rằng đoàn xe Đức bị bao phủ bởi khói đen dày đặc từ những xe tăng đang cháy, khiến bộ binh không thể định vị chính xác mục tiêu. Họ chỉ có thể nấp sau thiết giáp và tìm cách bắn trả mà không biết rằng mình đang đối đầu với một binh sĩ duy nhất.
Điều đó dường như giúp thượng sĩ Sirotinin duy trì hỏa lực trong khoảng hai giờ trước khi thiệt mạng, dù có ý kiến cho rằng thời gian thực tế ngắn hơn nhiều. Sirotinin được cho là đã phá hủy 11 xe tăng, 7 thiết giáp và hạ 57 binh sĩ đối phương.
Theo hãng tin Sputnik, lực lượng Đức khâm phục Sirotinin đến mức quyết định chôn cất thượng sĩ Hồng quân với nghi thức quân đội.
"Ngày 17/7/1941, tại Sokolnichi gần Krichev. Một binh sĩ Nga vô danh đã được chôn cất. Người này đơn độc cố thủ cùng khẩu pháo, liên tục nã đạn vào đoàn xe tăng và bộ binh trước khi thiệt mạng. Mọi người đều kinh ngạc trước lòng dũng cảm của anh ta. Không rõ vì sao người này lại kháng cự quyết liệt như vậy, khi đằng nào anh ta cũng không thoát khỏi cái chết", nhật ký của người được cho là thượng sĩ Đức Friedrich Henfeld có đoạn viết.
Chân dung của Sirotinin do một đồng đội vẽ theo trí nhớ hồi những năm 1990. Ảnh: statehistory.ru
Henfeld tử trận sau đó vài tháng. Nhà báo quân sự Fyodor Selivanov thu được quyển nhật ký và gửi nó đến trụ sở của Hồng quân.
Một số nhà nghiên cứu bày tỏ nghi ngờ về sự tồn tại của Henfeld và quyển nhật ký. Họ cũng cho rằng trận chiến không phải chuyện hư cấu, nhưng sự việc có thể đã diễn ra hơi khác.
Vào thời điểm đó, ở cánh phải của phòng tuyến là các binh sĩ thuộc Tiểu đoàn số 2 của Trung đoàn Bộ binh số 409. Họ cũng có nhiệm vụ yểm trợ cho lực lượng chủ lực rút lui. Đây được cho là một trong những yếu tố giúp Sirotinin có thể đơn độc chiến đấu trong thời gian lâu như vậy.
Chiến công của Sirotinin được ghi nhận năm 1960, khi thượng sĩ Hồng quân được truy tặng Huân chương Chiến tranh Vệ quốc Hạng nhất. Tại Belarus, tên của anh cũng được đặt cho một khu phố ở thị trấn Krichev.
Phạm Giang (Theo War History Online, Top War)








