
Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú - Ảnh: TTXVN
Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú ký ban hành kết luận 09 của Bộ Chính trị về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Tại phiên họp ngày 27-2, Bộ Chính trị thống nhất chủ trương thông qua đề án "Hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới".
Đưa thể chế, pháp luật trở thành lợi thế cạnh tranh
Kết luận của Bộ Chính trị nêu rõ việc hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật.
Cụ thể, cấu trúc hệ thống pháp luật được xác định theo thứ bậc từ các nguồn luật, bao gồm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (văn bản - PV) (gồm Hiến pháp; văn bản của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội; văn bản dưới luật của các cơ quan Trung ương; văn bản của chính quyền địa phương) và các nguồn bổ trợ (án lệ, tập quán, lẽ công bằng).
Mở rộng phạm vi áp dụng và xác định rõ giá trị pháp lý của các nguồn bổ trợ, theo hướng án lệ, tập quán, lẽ công bằng được sử dụng để điều chỉnh các quan hệ xã hội chưa được văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoặc chưa được quy định rõ ràng trong một số trường hợp cụ thể.
Bổ sung nguyên tắc áp dụng pháp luật trong trường hợp có quy định khác nhau về cùng một vấn đề theo hướng ưu tiên áp dụng quy phạm pháp luật chuyên ngành so với quy phạm pháp luật chung.
Đơn giản hóa hệ thống văn bản theo hướng mỗi chủ thể có thẩm quyền ban hành chỉ ban hành một hình thức văn bản với lộ trình thực hiện phù hợp với yêu cầu thực tiễn.
Các văn bản phải quy định rõ mục đích ban hành, phạm vi điều chỉnh, hiệu lực áp dụng, quy định chuyển tiếp…, nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập trong thực tiễn xây dựng và thi hành pháp luật.
Hạn chế việc ban hành nhiều văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành và biện pháp cụ thể để tổ chức thi hành văn bản.
Không ban hành một văn bản để sửa đổi, bổ sung nhiều văn bản khác khi các văn bản đó không có mối liên hệ chặt chẽ về nội dung hoặc không cùng điều chỉnh một nhóm lĩnh vực.
Xác định rõ quy phạm pháp luật công và quy phạm pháp luật tư trong xây dựng pháp luật.
Các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ giữa các cơ quan nhà nước với nhau hoặc giữa cơ quan nhà nước với cá nhân, tổ chức (quy phạm pháp luật công) được thiết kế cụ thể, chặt chẽ, minh bạch...
Các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ giữa các chủ thể là cá nhân, tổ chức không mang quyền lực nhà nước (quy phạm pháp luật tư) được thiết kế theo hướng chủ yếu đặt ra khung pháp lý mang tính nguyên tắc.
Các nội dung cụ thể để các chủ thể tự thỏa thuận trên cơ sở nhu cầu, lợi ích, quyền tự định đoạt, tự chịu trách nhiệm của mình trên tinh thần không vi phạm điều cấm của luật...
Thực hiện nghiêm nguyên tắc "thượng tôn Hiến pháp và pháp luật", Hiến pháp là luật cơ bản, có hiệu lực pháp lý cao nhất; một số bộ luật, luật có tính nền tảng là trung tâm của hệ thống pháp luật.
Gồm Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng dân sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Tố tụng hành chính.
Trong các văn bản luật có tính nền tảng, ngoài quy định chi tiết, cụ thể, còn có nguyên tắc cơ bản có giá trị chi phối, định hướng các văn bản luật còn lại trong hệ thống pháp luật.
Đẩy mạnh hoàn thiện quy định pháp luật phục vụ kiến tạo phát triển, phát huy vai trò dẫn dắt, "đi trước mở đường" của pháp luật, đưa thể chế, pháp luật trở thành lợi thế cạnh tranh.
Chú trọng ban hành các chính sách đặc thù, cơ chế thử nghiệm có kiểm soát nhằm hình thành các lực lượng sản xuất, phương thức sản xuất, lĩnh vực kinh tế mới...
Ưu tiên ban hành các quy định pháp luật tạo cơ sở pháp lý đồng bộ cho hoạt động của bộ máy nhà nước theo mô hình chính quyền 3 cấp và các quy định pháp luật về đầu tư, kinh doanh...
Phân định rõ những nội dung phải được quy định bằng luật và quy định trong từng loại văn bản dưới luật theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản.
Nghiên cứu bổ sung một số nội dung cần được quy định trong văn bản luật liên quan đến hạn chế quyền, đặt ra nghĩa vụ mới, biện pháp chế tài với người dân, doanh nghiệp.
Tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam
Kết luận yêu cầu tiến hành tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam; tuyệt đối không để cài cắm lợi ích, tác động tiêu cực đến cấu trúc hệ thống pháp luật.
Đổi mới mạnh mẽ công tác hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật theo hướng văn bản hợp nhất là căn cứ chính thức trong viện dẫn và áp dụng pháp luật, được trình, đăng tải đồng thời với văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi, bổ sung.
Hoàn thiện cơ chế giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh và cơ chế hướng dẫn áp dụng văn bản quy phạm pháp luật theo hướng xác định rõ chủ thể có thẩm quyền, nguyên tắc, quy trình giải thích, hướng dẫn áp dụng.
Kết luận yêu cầu nghiên cứu cơ chế đẩy nhanh việc thể chế hóa chủ trương, định hướng của Đảng thành pháp luật.
Tiếp tục đổi mới tổ chức, hoạt động của Quốc hội trong hoạt động lập pháp theo hướng tăng hợp lý số kỳ họp của Quốc hội, nhất là thông qua hình thức trực tuyến, gắn với phát huy vai trò của đại biểu chuyên trách, các đoàn đại biểu.
Kết luận nêu thêm trên cơ sở tuân thủ Hiến pháp, các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, công dân, nghiên cứu cơ chế cho phép Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ được ban hành văn bản điều chỉnh quy định của luật trong trường hợp khẩn cấp, cấp bách mà Quốc hội không thể họp được hoặc điều chỉnh nội dung mang tính kỹ thuật để giải quyết ngay một số vấn đề phát sinh trong thực tiễn, báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất...
