Xây dựng 'đường băng' để tác phẩm Việt 'cất cánh'

2 hours ago 4
Quảng Cáo

0943778078

TPO - Bên cạnh lộ trình của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch nhằm khắc phục 4 "khoảng trống" trong phát triển văn hóa, các chuyên gia cho rằng Việt Nam cần xây dựng một hệ sinh thái công nghiệp văn hóa hoàn chỉnh. Chỉ khi kết nối được sáng tạo, công nghệ, dữ liệu, bản quyền và thị trường, các sản phẩm văn hóa mới đủ sức vươn ra quốc tế.

Lộ trình lấp 4 "khoảng trống" phát triển văn hóa

Văn hóa không chỉ là nền tảng tinh thần mà đang trở thành nguồn lực nội sinh, trụ cột quan trọng định hình sự phát triển bền vững của đất nước trong kỷ nguyên số. Tại phiên họp Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã chỉ ra 4 khoảng trống cần sớm khắc phục để tạo đột phá cho phát triển văn hóa.

Đó là hoàn thiện thể chế và hệ sinh thái phát triển công nghiệp văn hóa, nâng cao năng lực sáng tạo các sản phẩm có khả năng trở thành thương hiệu quốc gia, cạnh tranh quốc tế, chuyển hóa giá trị di sản thành giá trị kết nối thông qua chuyển đổi số; đồng thời nâng cao sức hấp dẫn, khả năng lan tỏa của các sản phẩm văn hóa trên môi trường số.

Từ những chỉ đạo này, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (Bộ VHTTDL) đang xây dựng lộ trình triển khai bằng các đề án, chương trình và giải pháp cụ thể nhằm khơi thông các điểm nghẽn, tạo nền tảng để văn hóa thực sự trở thành sức mạnh nội sinh và động lực phát triển đất nước.

1784088847722-9146936196616383445-9146936196616383445-7bbb7c73b0fd194e850c62fbfff6e75f.jpg Ông Cao Lê Tuấn Anh - Chánh Văn phòng, Người phát ngôn Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (giữa) - thông tin về lộ trình lấp 4 khoảng trống để tạo đột phá cho phát triển văn hóa.

Lộ trình này được ông Cao Lê Tuấn Anh - Chánh Văn phòng, Người phát ngôn Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thông tin tại họp báo thường kỳ quý II/2026 của Bộ. Theo đó, Bộ đang triển khai đồng bộ nhiều nhóm giải pháp nhằm cụ thể hóa chỉ đạo của Tổng Bí thư, từng bước khắc phục 4 khoảng trống trong phát triển văn hóa.

Đối với khoảng trống đầu tiên về thể chế và hệ sinh thái phát triển công nghiệp văn hóa, Bộ sẽ tiếp tục tham mưu Chính phủ trình Quốc hội các dự án luật như Luật Công nghiệp văn hóa, Luật Bản quyền tác giả, Luật Nghệ thuật biểu diễn, Luật Văn học cùng các văn bản liên quan nhằm tạo nên hệ sinh thái thể chế phục vụ phát triển công nghiệp văn hóa.

"Khoảng trống thứ hai là năng lực sáng tạo các sản phẩm có khả năng trở thành thương hiệu quốc gia và cạnh tranh quốc tế. Chúng ta cần có khuôn khổ pháp lý, hành lang để thúc đẩy sáng tạo, với sự tham gia của Nhà nước, doanh nghiệp, người dân và các chủ thể sáng tạo", ông Cao Lê Tuấn Anh nêu.

Đối với khoảng trống thứ ba về chuyển hóa giá trị di sản thành giá trị kết nối thông qua chuyển đổi số, Bộ xác định trọng tâm là xây dựng cơ sở dữ liệu lớn và cơ sở dữ liệu dùng chung quốc gia.

"Khi có hệ thống dữ liệu này thì mới có thể xây dựng bảo tàng số, thư viện số và chuyển hóa các giá trị văn hóa lên không gian mạng. Đi cùng với đó là các quy định liên quan đến bản quyền tác giả", đại diện Bộ VHTTDL nhấn mạnh.

Riêng khoảng trống thứ tư là nâng cao sức hấp dẫn và khả năng lan tỏa của các sản phẩm văn hóa trên không gian số, ông Tuấn Anh cho biết Bộ đã tiếp thu đầy đủ chỉ đạo của Tổng Bí thư và đang cụ thể hóa thành các đề án, chương trình cùng lộ trình triển khai cụ thể.

Song song với đó, Bộ cũng xây dựng kế hoạch tăng cường quản lý môi trường số, trong đó tiếp tục hoàn thiện các quy tắc ứng xử trên không gian mạng và tham mưu ban hành các quy định pháp lý liên quan để góp phần bảo vệ chủ quyền văn hóa trên không gian số.

Xây dựng 'đường băng' để tác phẩm Việt cất cánh

Để lộ trình của Bộ VHTTDL đạt hiệu quả, điều quan trọng không chỉ là hoàn thiện chính sách mà còn phải giải quyết những điểm nghẽn đã tồn tại nhiều năm trong hệ sinh thái công nghiệp văn hóa.

Theo TS Hà Thanh Vân (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam), điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là Việt Nam chưa hình thành được hệ sinh thái hoàn chỉnh để chuyển hóa tài năng và vốn văn hóa thành sản phẩm có chất lượng, tài sản trí tuệ, thương hiệu và thị trường quốc tế.

"Việt Nam có hơn 40.000 di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh, gần 70.000 di sản văn hóa phi vật thể, trong đó có 38 di sản được UNESCO ghi danh theo số liệu được nêu tại phiên họp. Tuy nhiên, phần lớn nguồn tài nguyên này chưa được số hóa, chuẩn hóa, bảo hộ và kết nối để phục vụ giáo dục, nghiên cứu, điện ảnh, trò chơi điện tử, thiết kế, xuất bản hay trí tuệ nhân tạo. Điều đó cho thấy chúng ta đang sở hữu một mỏ quặng văn hóa rất lớn nhưng năng lực tinh luyện, thiết kế và đưa sản phẩm ra thị trường còn yếu", TS. Hà Thanh Vân nhận định.

Sự đứt gãy trong chuỗi giá trị là một trong những nguyên nhân khiến các sản phẩm văn hóa "made in Vietnam" khó tạo sức cạnh tranh. Ngay ở thị trường trong nước, các tác phẩm vẫn chủ yếu được đầu tư ở khâu sáng tác, trong khi các công đoạn phát triển dự án, sản xuất, bảo hộ sở hữu trí tuệ, quảng bá, phân phối và khai thác bản quyền chưa được quan tâm đúng mức.

"Quy mô sản xuất còn nhỏ và thiếu nguồn vốn dài hạn. Trong khi nhiều quốc gia phát triển các hệ sinh thái sở hữu trí tuệ trên nhiều nền tảng, Việt Nam vẫn chủ yếu vận hành theo từng dự án riêng lẻ, chưa hình thành được các chuỗi sản phẩm có khả năng phát triển lâu dài. Năng lực phân phối quốc tế còn hạn chế", TS. Hà Thanh Vân nói.

Trong thời đại số, một sản phẩm muốn "đi xa" không chỉ cần chất lượng mà còn phải có chiến lược phát hành, tiếp cận công chúng và quảng bá phù hợp, cùng với cơ chế bảo hộ bản quyền đủ mạnh để tạo động lực cho người sáng tạo và thu hút nhà đầu tư.

"Muốn sản phẩm văn hóa Việt Nam tạo được dấu ấn trên thị trường quốc tế, chúng ta không chỉ cần thêm nhiều tác phẩm hay mà phải xây dựng cả 'đường băng' để tác phẩm cất cánh, từ đào tạo nhân lực, dữ liệu, công nghệ, quỹ đầu tư, bản quyền đến sản xuất và phân phối quốc tế", TS. Hà Thanh Vân đề xuất.

Những điểm nghẽn này cũng được nhìn thấy từ thực tiễn hoạt động của các đơn vị nghệ thuật. Theo NSND Tống Toàn Thắng - Giám đốc Liên đoàn Xiếc Việt Nam, để hình thành một hệ sinh thái công nghiệp văn hóa hoàn chỉnh, chuyển đổi số phải được nhìn nhận như một phương thức phát triển mới chứ không chỉ đơn thuần là đưa tác phẩm lên môi trường mạng.

"Khi được khai thác trên không gian số với nhiều góc quay, tác phẩm có thể tiếp cận lượng khán giả rộng hơn và đem lại một trải nghiệm khác với việc chỉ ghi hình đơn thuần. Nếu khai thác đúng cách, nội dung số vừa giúp lan tỏa nghệ thuật, vừa tạo thêm nguồn thu, hình thành một nền tảng đáng tin cậy để khán giả tìm hiểu và thưởng thức xiếc. Đó là một phần của tư duy công nghiệp văn hóa", NSND Tống Toàn Thắng cho biết.

Để các sản phẩm văn hóa Việt Nam đủ sức cạnh tranh quốc tế, không thể chỉ tạo ra những tiết mục phục vụ từng sự kiện mà cần xây dựng chuỗi giá trị liên kết giữa nghệ thuật, công nghệ, truyền thông, du lịch, thiết kế và các ngành khác.

"Muốn phát triển công nghiệp văn hóa, không thể chỉ làm những tiết mục đơn lẻ phục vụ một sự kiện rồi kết thúc. Cần hình thành chuỗi giá trị, có sự phối hợp giữa nghệ thuật, công nghệ, truyền thông, du lịch, thiết kế và các ngành khác, từ đó tạo ra những sản phẩm có thể biểu diễn lâu dài, mở rộng thị trường và mang lại nhiều tầng giá trị về tư tưởng, giáo dục, trải nghiệm và kinh tế", ông nhấn mạnh.

Ngoài ra, yếu tố bản sắc dân tộc cần được đặt ở vị trí trung tâm thông qua việc đưa chất liệu văn hóa truyền thống vào ngôn ngữ biểu diễn, qua đó tạo nên những sản phẩm vừa mang đậm dấu ấn Việt Nam, vừa có khả năng chinh phục khán giả quốc tế.

Read Entire Article