Vụ UAV xâm nhập vùng cấm bay Tân Sơn Nhất: Vì sao khó phát hiện sớm?

56 minutes ago 5
Quảng Cáo

0943778078

TPO - Sân bay Tân Sơn Nhất - TPHCM phải đóng cửa 2 lần, hàng chục chuyến bay bị ảnh hưởng liên quan tới sự cố UAV xâm nhập khu vực cấm bay tối 11/8. Tuy nhiên, theo Cục Hàng không Việt Nam, công tác phát hiện, chế áp UAV hiện vẫn phụ thuộc nhiều vào quan sát thủ công do thiếu các hệ thống chuyên dụng có khả năng phát hiện, cảnh báo sớm và xử lý UAV khi cần thiết.

Phụ thuộc nhiều vào quan sát thủ công

Cục Hàng không Việt Nam (HKVN) vừa báo cáo Bộ Xây dựng về việc máy bay không người lái (UAV) xuất hiện trong khu vực hoạt động bay của Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất tối 11/8, khiến hoạt động khai thác bị xáo trộn trong nhiều giờ.

Theo báo cáo, lúc 17h34, tổ lái chuyến VJ601 từ Cam Ranh đến TPHCM phát hiện một drone cách máy bay khoảng 10 dặm, ở độ cao hơn 914 m. Đến 18h16, tổ lái chuyến 3S621 của Vietnam Airlines tiếp tục phát hiện một drone cách máy bay B777 khoảng 500 m, khi máy bay đang ở độ cao 549 m sau khi cất cánh từ Tân Sơn Nhất. Sự cố đã ảnh hưởng hơn 60 chuyến bay.

1-6108.jpg Hơn 60 chuyến bay tại sân bay Tân Sơn Nhất bị ảnh hưởng trong tối 11/8 vì sự cố UAV. Ảnh: Internet.

Theo Cục HKVN, công tác phát hiện, chế áp UAV hiện vẫn phụ thuộc nhiều vào quan sát thủ công do thiếu các hệ thống chuyên dụng có khả năng phát hiện, cảnh báo sớm và xử lý UAV khi cần thiết.

Cục HKVN kiến nghị sớm thống nhất cơ quan, đơn vị chủ trì xử lý khi UAV xâm nhập trái phép khu vực cấm bay, hạn chế bay của sân bay và ảnh hưởng hoạt động hàng không dân dụng. Cơ quan này cũng đề xuất đầu tư các hệ thống chuyên dụng để phát hiện, cảnh báo sớm và chế áp UAV khi cần thiết, thay vì chủ yếu xác minh bằng mắt thường hoặc thông báo thủ công như hiện nay.

Trao đổi với PV Tiền Phong, TS. Trần Thiên Phương - Phó Chủ tịch Mạng lưới hàng không vũ trụ và thiết bị bay không người lái Việt Nam (AUVS VN) - đánh giá sự cố tối 11/8 đặc biệt nghiêm trọng khi UAV xuất hiện ở độ cao khoảng 900 m và 550 m, có thời điểm cách máy bay chỉ khoảng 500 m.

Theo TS. Trần Thiên Phương, mục tiêu đã đi vào khu vực có nguy cơ xung đột trực tiếp với tàu bay đang cất, hạ cánh. Tân Sơn Nhất phải 2 lần tạm dừng khai thác và đến 20h34 mới khôi phục hoàn toàn.

Điểm đáng lo không chỉ nằm ở sự hiện diện của một chiếc UAV, mà còn ở việc cơ quan điều hành không có ngay đầy đủ thông tin về mục tiêu: Đó là thiết bị nào, xuất phát từ đâu, ai điều khiển, có mang vật gì, sẽ bay theo hướng nào và còn UAV khác trong khu vực hay không.

Trong điều kiện chưa xác định được những yếu tố này, theo chuyên gia, dừng cất và hạ cánh là lựa chọn an toàn bắt buộc.

thiet-bi-bay-khong-nguoi-lai-2373-3163.jpg Cận cảnh một thiết bị bay không người lái đang thịnh hành hiện nay. Ảnh: Lộc Liên.

"Một UAV giá vài chục triệu đồng có thể gây thiệt hại khai thác rất lớn. Nguy cơ nghiêm trọng hơn là va chạm với động cơ, kính buồng lái hoặc bộ phận điều khiển của tàu bay chở hàng trăm hành khách", TS. Trần Thiên Phương nói.

Cần 'mắt thần' nhiều lớp thay vì một thiết bị đơn lẻ

Theo TS. Trần Thiên Phương, giải pháp ưu tiên là xây dựng năng lực phát hiện, định danh và theo dõi UAV theo thời gian thực trên một nền tảng chỉ huy, điều khiển (C2). Hệ thống này cần kết hợp ba nhóm thiết bị:

Thứ nhất là radar chuyên dụng, có khả năng phát hiện mục tiêu nhỏ, xác định vị trí, độ cao, tốc độ và theo dõi đường bay, kể cả trong trường hợp UAV không phát sóng. Thứ hai là thiết bị thu và phân tích sóng vô tuyến (RF), giúp phát hiện liên kết điều khiển hoặc truyền hình ảnh, đồng thời trong một số trường hợp có thể ước tính vị trí UAV hoặc bộ điều khiển. Thứ ba là camera quang học và ảnh nhiệt, giúp quan sát rõ mục tiêu cả ngày lẫn đêm, phân biệt UAV với chim và lưu lại bằng chứng phục vụ xác minh.

"Không nên chỉ dùng một loại thiết bị để phát hiện UAV", ông Phương phân tích và nói thêm, radar đơn thuần khó phân biệt UAV với chim trong môi trường đô thị; thiết bị thu sóng vô tuyến có thể bỏ sót UAV bay tự động hoặc không phát sóng, còn camera phụ thuộc vào thời tiết, ánh sáng và tầm nhìn.

new-flight-pattern-for-drones-wherenext-wide-1920x1080-1-1.jpg Theo chuyên gia, không nên chỉ dùng một loại thiết bị để phát hiện UAV. Ảnh minh họa: ABP.

Các lớp phát hiện này cần được kết nối với hệ thống định danh điện tử và hệ thống quản lý giao thông UAV (UTM). Có thể hình dung UTM như một "trung tâm điều phối đường bay cho UAV", tiếp nhận kế hoạch bay, kiểm tra quyền bay, giám sát hành trình và cảnh báo nguy cơ xung đột. Hệ thống này bổ trợ cho quản lý không lưu hiện hữu chứ không thay thế việc kiểm soát máy bay dân dụng.

Một yêu cầu khác được chuyên gia đề xuất là sớm áp dụng định danh điện tử đối với UAV thuộc diện quản lý. Mỗi thiết bị hợp pháp cần có tối thiểu mã thiết bị, thông tin người khai thác, vị trí, độ cao và trạng thái chuyến bay. Dữ liệu có thể được truyền trực tiếp ở phạm vi gần hoặc qua mạng 4G/5G về hệ thống UTM.

Cùng với đó là từng bước áp dụng nguyên tắc "không có phép thì không được cất cánh". Theo cơ chế này, UAV chỉ được mở khóa động cơ khi hệ thống xác nhận đúng thiết bị và người khai thác; đăng ký, kiểm định và giấy phép còn hiệu lực; khu vực, độ cao, thời gian bay phù hợp; kế hoạch hoặc lệnh bay đã được phê duyệt và kết nối định danh điện tử đang hoạt động...

Read Entire Article