
Số cây muội hồng tàng trữ trong vườn nhà ông Y., xã Hồ Vương, tỉnh Thanh Hóa - Ảnh: Hạt Kiểm lâm Hà Trung cung cấp
Ông Trần Văn Vui - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Hà Trung, thuộc Chi cục Kiểm lâm Thanh Hóa - cho biết qua thông tin từ nhân dân, đơn vị vừa kiểm tra hành chính tại khu vườn của gia đình ông Y., trú tại thôn Nội 2, xã Hồ Vương, tỉnh Thanh Hóa.
Qua kiểm tra, lực lượng kiểm lâm phát hiện tại vườn nhà ông Y. đang tàng trữ 122 cây muội hồng, có dấu hiệu buôn bán cây này.
Sau khi lập biên bản vụ việc, Hạt Kiểm lâm Hà Trung đã chuyển toàn bộ 122 cây muội hồng thu giữ tại vườn nhà ông Y., bàn giao cho Vườn quốc gia Bến En, tỉnh Thanh Hóa để chăm sóc, bảo tồn theo quy định.
Như Tuổi Trẻ Online đã có loạt bài viết về cây muội hồng, thời gian qua, giá cây muội hồng bị đẩy lên từ vài triệu đến hàng chục triệu đồng trên mạng xã hội khiến nhiều người bất chấp tính mạng đi khai thác trái phép.
Kiểm lâm Thanh Hóa khuyến cáo cây muội hồng không thuộc nhóm cây quý hiếm, việc khai thác trên vách núi cao rất nguy hiểm đến tính mạng và là hành vi vi phạm pháp luật. Người dân cần tỉnh táo, tránh bị cuốn theo "cơn sốt" giá ảo của cây muội hồng.
Chi cục Kiểm lâm Thanh Hóa sẽ xử lý nghiêm các trường hợp khai thác, vận chuyển, mua bán, tàng trữ cây muội hồng.
Cây muội hồng (tên khoa học Syzygium myrtifolium) là loài cây tự nhiên mọc ở núi đá vôi. Cây có dáng nhỏ, thân xù xì, lá non màu đỏ hồng, lá trưởng thành có màu xanh thẫm.
Theo Chi cục Kiểm lâm Thanh Hóa, từ cuối năm 2025 đến nay, lực lượng kiểm lâm trong tỉnh đã xử phạt hơn 30 vụ vi phạm liên quan đến cây muội hồng, thu giữ hơn 300 cây, xử phạt hành chính các cá nhân liên quan gần 150 triệu đồng.

Số cây muội hồng thu giữ trong vườn nhà ông Y., xã Hồ Vương đã được chuyển đến Vườn quốc gia Bến En, tỉnh Thanh Hóa chăm sóc, bảo tồn - Ảnh: Hạt Kiểm lâm Hà Trung cung cấp
Theo Luật Lâm nghiệp 2017, người dân tự ý khai thác cây muội hồng khi chưa được cấp phép là hành vi khai thác lâm sản trái phép.
Tùy mức độ vi phạm, người khai thác lâm sản trái phép có thể bị xử phạt hành chính theo Nghị định 35/2019/NĐ-CP, hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo điều 232, Bộ luật Hình sự.
