Nhiều người từng ghé thăm di tích Bệnh xá Đặng Thùy Trâm nằm sát quốc lộ, nhưng để đặt chân lên tới nơi từng đặt Trạm xá Bác Mười (Bệnh xá Đức Phổ) nơi Anh hùng, bác sĩ Đặng Thùy Trâm anh dũng hy sinh là một cuộc hành trình rất gian nan.
Mặt hồ thăng hoa tâm hồn
Trong cuốn Nhật ký Đặng Thùy Trâm, chị thường viết về những chuyến đi từ Bệnh xá Bác Mười nằm trên vùng rừng núi Ba Tơ, khu vực giáp ranh xuống các xã ven biển. Có một địa danh mà chị luôn đi cắt ngang để xuống đồng bằng, đó là hồ Liệt Sơn. Bà con người dân tộc H’rê ở vùng này cho biết, đang vào mùa nắng, không đi ghe trên mặt hồ để tới chân núi được, vì vậy phải đi xe, đi bộ, rồi leo núi, người đi phải có sức khỏe, mang theo nước ngọt đầy đủ. Nếu đi theo hướng từ Ba Tơ qua Nước Đang thì đường càng khó đi hơn.
Các em học sinh dân tộc H’rê ở xã Đặng Thùy Trâm đón xem phim về bác sĩ Đặng Thùy Trâm. (Ảnh: Lê Văn Chương)
Vài ngày trước khi quyết định đi theo hướng đường đất từ phía Ba Tơ, tôi thử đi một đoạn trên con đường lòng hồ. Xe máy phải đi qua những ngách nhỏ, có đoạn đường đất lún sâu, hai bên vách đất cao gần 30 cm và chỉ vừa lọt bánh xe máy ở giữa. Từ đây tới đập Liệt Sơn, một bình nguyên đột ngột hiện ra trước mắt. Cách đây hơn 60 năm, mỗi khi chị Trâm đặt chân tới phía đông của hồ Liệt Sơn, giáp ranh với xã đồng bằng, chị bắt đầu nhắc người dẫn đường là cậu lính giao liên Phạm Văn Đe: “Coi phía trước có tình hình gì không… cẩn thận với bẫy mìn và lính mai phục!”.
Tháng 7, hồ Liệt Sơn đang vào mùa nước cạn nên phần đất từng nằm dưới mực nước bây giờ giống như tầng sa thạch, những đường cong uốn lượn theo mép nước, chân núi và bầu trời giống như hạ thấp xuống mặt hồ, soi bóng mây trắng như bông. Người lính dẫn đường cho chị Trâm năm xưa, bây giờ đã là một cụ già 73 tuổi, nhưng bước chân vẫn khỏe mạnh. Cụ Phạm Văn Đe cho biết, thời lính Mỹ còn đóng căn cứ ở Gò Hội, huyện Đức Phổ, ngày nào máy bay cũng ầm ầm qua làng, có khi đi 3 chiếc, có khi 5 chiếc một lúc. Vì phía tây của hồ Liệt Sơn có tuyến đường mòn vận tải đạn, và là tuyến đường công tác của quân giải phóng.
Trong nhật ký, ngày 8/6/1968, bác sĩ Đặng Thùy Trâm viết: “Và như một dòng suối nước chảy trong veo nhưng đôi chỗ vẫn có những vũng nước đọng ven bờ đá. Dù sao dòng suối vẫn đẹp, ta nhìn cả dòng suối và yêu cái nên thơ của nó chứ ai lại vì một vũng nước nhỏ mà ghét bỏ nó. M. ơi, M. cũng như dòng suối ấy chăng? M. cũng là dòng nước chảy rì rào êm đẹp và cũng còn những vũng nước đọng ven bờ? Thùy là người đi giữa rừng, nghĩ sao đây?”.
Vẻ đẹp của hồ Liệt Sơn vào mùa nước cạn dường như đã hòa quyện vào tâm hồn người nữ bác sĩ, giúp chị biến những hiểm nguy rình rập thành sự điềm tĩnh, nhẹ nhàng trong từng trang viết: “Về họp Huyện đoàn. Sống trong không khí của những lớp người gọi là trẻ trung ấy mình cảm thấy vui. Tình hình địch căng thẳng hết mức, chúng đã lén lút kéo quân đến gần vị trí bọn mình họp mà cũng không hay, cứ lo hát cười đóng cây chặt gỗ ầm ầm. Cho đến lúc có một anh dân tộc chạy vào báo địch ở sát bên nách lúc đó mới rõ”.
Lên vùng lõi
Xã Ba Trang (nay là xã Đặng Thùy Trâm) có hai thôn Đèo Ải và Đồng Lớn nằm cách trung tâm gần 20 km, với 47 hộ dân sinh sống rải rác giữa đại ngàn. Nơi đây thuộc diện đặc biệt khó khăn, thiếu thốn đủ đường từ điện, đường, trường, trạm cho đến sóng điện thoại. Đây cũng chính là một trong những chốn thâm sơn cùng cốc từng in đậm dấu chân của bác sĩ Đặng Thùy Trâm năm xưa.
Tuyến đường băng qua hồ Liệt Sơn mùa nước cạn, nơi chị Đặng Thùy Trâm từng đi công tấc (Ảnh: Lê Văn Chương)
Sáng ngày 22/7/2026, với sự hỗ trợ của hai chiến sĩ dân quân thường trực là người H’rê bản địa, tôi quyết định ngược ngàn theo tuyến đường mòn này để tìm về di tích Trạm xá Bác Mười. Chỉ vừa rời trung tâm xã Đặng Thùy Trâm chừng một cây số, con đường đất đỏ bắt đầu hiện ra với những vệt xói lở sâu hoắm. Mặt đường hằn in chi chít vết bánh xe vận tải chở keo, lúp xúp nước đọng sau những cơn mưa rừng. Hai dân quân trẻ cho biết, vào mùa mưa lũ, Đèo Ải và Đồng Lớn gần như bị cô lập hoàn toàn; để ra được trung tâm xã, bà con phải liều mình chèo ghe vượt hồ Liệt Sơn những ngày nước lặng.
Trên hành trình áp sát vùng căn cứ địa, ghé qua thôn Nước Đang, chúng tôi bắt gặp những ngôi nhà cấp 4 nép mình trong khói bụi, mái tôn phả ra thứ hơi nóng hầm hập. Trò chuyện với bà Phạm Thị Hường, ký ức của năm 1967 bỗng ùa về qua lời kể đượm buồn. Thời điểm ấy, đồng bào sống bám vào các triền núi, ngày đêm đối mặt với tiếng gầm rú đinh tai nhức óc của trực thăng địch. Muốn có hạt gạo đắp đổi qua ngày, người dân phải trèo lên những tán cây rừng hái đầy một giỏ lá trầu để đem xuống đồng bằng đổi lấy một lon gạo nhỏ. Con đường mòn gập ghềnh ấy cũng chính là lối đi quen thuộc mà nữ bác sĩ Đặng Thùy Trâm từng âm thầm bước qua mỗi đêm.
Bà Hường nghẹn ngào nhắc lại bi kịch năm 1970, thời điểm bác sĩ Trâm vừa hy sinh không lâu, một nhóm bà con đi đổi lá trầu đã lọt vào ổ phục kích của địch, khiến 6 người thương vong oan nghiệt.
Bà Võ Thị Thu Thủy, người từng tham gia tập huấn về y tế tại Trạm xá Bác Mười kể lại, mỗi khi có dấu hiệu địch phát hiện ra bệnh xá thì phải dời vị trí từ núi này sang núi khác, cách đó vài km, đảng viên luôn làm gương, gánh việc nặng nhọc và nguy hiểm. Trong nhật ký, bác sĩ Đặng Thùy Trâm viết: “20/7/1968… Và với những học sinh, mình đã đem lại những điều quý giá trong y học. Mình đến với lớp không phải chỉ vì tinh thần trách nhiệm mà bằng cả tình thương của một người chị đối với những đứa em đã chịu bao thiệt thòi, đau khổ…”.
Rời Nước Đang, càng tiến sâu về phía di tích Trạm xá Bác Mười, những con suối cắt ngang xuất hiện với tần suất dày đặc hơn. Có dòng suối chỉ rộng tầm mét thước, nhưng cũng có đoạn lòng suối mở rộng tới năm, bảy mét. Chỉ cần nhìn vào những vách đá nhẵn thín và lòng suối ngổn ngang đá tảng, đủ để hình dung vào mùa mưa lũ, nơi đây sẽ trở thành những dòng thác dữ cuồn cuộn chia cắt cả một vùng. Chính địa hình hiểm trở này đã tạo thành bức bình phong che chở tuyệt đối cho Bệnh xá Bác Mười.
Địa điểm này bí mật đối với bộ binh, nhưng lại hoàn toàn trống trải trước hỏa lực từ trên không. Nếu máy bay trinh sát “cán gáo” của địch “soi” thấy một lọn khói bếp vô tình bốc lên, lập tức chúng sẽ lướt sát ngọn cây xộc thẳng xuống thung lũng, mở đường cho những trận mưa đạn cày xới cả một vùng rừng xanh.
Nhật ký viết vào ngày 4/6/1969, bác sĩ Đặng Thùy Trâm mô tả: “Vẫn là những ngày căng thẳng, địch đổ quân sát bên nhà. Chúng la hét, chặt cây ầm ĩ cả khu rừng. Bệnh xá im lìm căng thẳng đến tột bậc. Đang công tác ở Phổ Cường, nghe báo tin mình lặng người lo lắng, chén cơm bưng trong tay không sao ăn tiếp được nữa. Chẳng lẽ cứ thế này mãi sao. Vừa xây dựng được mấy bữa lại lo chạy - Bao giờ mới tiếp tục được nhiệm vụ?”.
Rừng núi vốn là lợi thế của quân giải phóng, vì vậy mặt đất không nguy hiểm bằng bầu trời. Điều ngạc nhiên là trạm xá Bác Mười lại nằm ngay sát nách một sân bay quân sự.
(Còn nữa)

20 hours ago
8







