Bạn đọc NGUYỄN THỊ THU (TP HCM) hỏi:"Đối với người có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục trẻ em có hành vi bạo hành trẻ, pháp luật quy định như thế nào về chế tài cũng như trách nhiệm của cộng đồng khi phát hiện vụ việc?".
Luật sư TRƯƠNG VĂN TUẤN, Trưởng Văn phòng Luật sư Trạng Sài Gòn, trả lời: Theo điều 22 Nghị định 130/2021/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi "Vi phạm quy định về cấm bạo lực với trẻ em" thì người có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục mà bạo hành trẻ em có thể bị xử phạt tối đa lên đến 20 triệu đồng. Ngoài ra, còn có thể bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả như buộc chi trả toàn bộ chi phí khám bệnh, chữa bệnh (nếu có) cho trẻ em đối với hành vi vi phạm; buộc tiêu hủy vật phẩm gây hại cho sức khỏe trẻ em.
Nghiêm trọng hơn, người vi phạm còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội ngược đãi hoặc hành hạ con, cháu; hành hạ người khác hoặc cố ý gây thương tích. Việc phạm tội đối với người đang ở trong tình trạng không thể tự vệ được, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, người bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc người lệ thuộc mình về mặt vật chất, tinh thần, công tác hoặc các mặt khác có thể được xem là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trong Bộ Luật Hình sự.
Đồng thời, Luật Trẻ em cũng quy định rõ trách nhiệm của cộng đồng: mọi cá nhân (bao gồm người dân, hàng xóm), cơ quan, tổ chức khi phát hiện, chứng kiến hoặc có thông tin, nghi ngờ về hành vi bạo lực trẻ em phải thông báo ngay cho cơ quan công an, UBND cấp xã nơi xảy ra vụ việc hoặc gọi đến tổng đài quốc gia bảo vệ trẻ em (111). Hành vi biết sự việc mà cố tình che giấu, không tố giác tội phạm có thể bị xem xét xử lý theo quy định của pháp luật.

17 hours ago
3







