Quảng Cáo
0943778078
Hơn 60 năm qua, OPEC điều tiết thị trường dầu toàn cầu bằng cách tăng hoặc giảm sản lượng của các nước sản xuất hàng đầu thế giới.
Ngày 28/4, Các tiểu vương quốc Arab thống nhất (UAE) thông báo sẽ rời Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) và liên minh OPEC+ từ ngày 1/5. Trên CNBC, giới phân tích đánh giá đây là tin tức gây sốc, vì UAE là nước có ảnh hưởng lớn thứ hai trong OPEC, chỉ sau Arab Saudi. Họ cũng là một trong các nước hiếm hoi của nhóm này có công suất dự phòng lớn, cho phép OPEC phản ứng linh hoạt trước các cú sốc nguồn cung. Sự ra đi của UAE vì thế là đòn giáng lớn với tổ chức từ nhiều năm qua đã điều tiết sản lượng cho các nước sản xuất dầu hàng đầu thế giới.
OPEC thành lập năm 1960 tại Baghdad bởi Iraq, Iran, Kuwait, Venezuela và Saudi Arabia. Khi đó, thị trường dầu toàn cầu bị thống trị bởi một nhóm 7 công ty đa quốc gia phương Tây. Nhóm này kiểm soát việc sản xuất và thiết lập giá dầu.
Mục đích của OPEC khi đó là khẳng định chủ quyền với tài nguyên thiên nhiên của mình, đồng thời đảm bảo mức giá công bằng và ổn định cho các nước sản xuất dầu, cũng như nguồn cung cho các quốc gia tiêu thụ. Hiện tại, tổ chức này gồm 12 thành viên, chủ yếu từ Trung Đông. Nếu không tính UAE, các thành viên của OPEC sẽ chỉ còn Arab Saudi, Algeria, Congo, Guinea Xích đạo, Gabon, Iran, Iraq, Kuwait, Libya, Nigeria và Venezuela.
Trong xung đột với Israel năm 1973, các nước Arab trong OPEC từng áp đặt lệnh cấm vận với Mỹ và các quốc gia ủng hộ Israel, bằng cách ngừng xuất khẩu dầu sang các nước này. Lệnh cấm vận đã gây áp lực lên kinh tế Mỹ khi đó, vốn phụ thuộc vào dầu nhập khẩu. Giá dầu tăng mạnh, kéo chi phí nhiên liệu lên cao và gây thiếu hụt nguồn cung. Chính sách này cũng đẩy Mỹ và nhiều nước khác đến bờ vực suy thoái.
Hội nghị đầu tiên của các nước OPEC. Ảnh: OPEC
Thập niên 70 của thế kỷ trước, OPEC đóng góp tới nửa nguồn cung dầu thô toàn cầu, trước khi xuất hiện các nguồn cung khác như Biển Bắc. Trong các thập kỷ sau, thị phần toàn cầu của họ vào khoảng 30-40%. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng kỷ lục của các đối thủ sau đó, như Mỹ, đã dần ăn mòn thị phần này.
Năm 2016, OPEC mở rộng sức ảnh hưởng, bằng cách thành lập liên minh OPEC+ cùng 10 nước khác, trong đó có Nga. Thị phần của nhóm này vì thế tăng lên 51,15 triệu thùng một ngày - tương đương 50% sản lượng dầu và chất lỏng từ dầu (oil liquid) toàn cầu, theo Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA). Cuối tháng 3, một tháng sau khi chiến sự Trung Đông nổ ra, thị phần này chỉ còn 44%.
OPEC+ cho biết họ cân bằng thị trường bằng cách tăng hoặc giảm sản lượng dầu. Họ cũng luôn phủ nhận các chỉ trích rằng liên minh đang thao túng giá. Tổ chức này họp nhiều lần trong năm để đánh giá thị trường, quyết định sản lượng cho các tháng kế tiếp và phân bổ hạn ngạch chi tiết cho từng thành viên.
Tổng thống Mỹ Donald Trump từng cáo buộc tổ chức này "bóc lột phần còn lại của thế giới" bằng cách đẩy giá dầu lên cao. Tuy nhiên, ông cũng là người góp phần thuyết phục OPEC+ giảm sản lượng từ giữa năm 2020 trong giai đoạn đại dịch. Khi đó, giá dầu thô xuống thấp, khiến các hãng dầu Mỹ chịu thiệt hại. Việc OPEC hạn chế sản xuất đã kéo giá Brent tăng gần gấp đôi trong nửa cuối năm.
Cuối năm 2022, sau thời gian bình thường hóa sản xuất, OPEC+ lại tiếp tục giảm sản lượng nhằm ngăn dư cung trên thị trường khiến giá giảm, gây thiệt hại cho các nước thành viên vốn phụ thuộc vào xuất khẩu dầu mỏ. Tính cả khoản cắt giảm chung toàn khối và tự nguyện, đỉnh điểm nhóm này giảm tới 5,85 triệu thùng một ngày trong tháng 3/2025. Tuy nhiên, kế hoạch này không phát huy nhiều tác dụng. Giá dầu Brent vẫn giao dịch trong biên độ hẹp 70-80 USD trong phần lớn năm 2024.
Từ tháng 4/2025, sản xuất của OPEC+ dần tăng lên. Giới phân tích nhận định việc này không chỉ nhằm trừng phạt những nước trong OPEC+ hưởng lợi từ giá cao nhưng vi phạm quota sản xuất. Mục tiêu khác của họ còn là gây sức ép lên ngành dầu đá phiến Mỹ để giành lại thị phần đã mất.
Sản lượng dầu và nhiên liệu lỏng của các nước thành viên OPEC năm 2025 (Đơn vị: triệu thùng/ngày). Đồ thị: EIA, OPEC, AP
UAE hiện là nước sản xuất lớn thứ 3 trong OPEC và lớn thứ 4 trong OPEC+. Họ là thành viên mới nhất rời OPEC trong vài năm qua, và đến nay là nước lớn nhất rút lui. Trước đó, Angola, Ecuador, Qatar cũng đã rời đi. Indonesia quyết định đình chỉ tư cách thành viên từ năm 2016. Angola cho biết rút lui do bất đồng về hạn ngạch sản xuất. Indonesia và Ecuador cũng giải thích rằng không muốn bị ràng buộc bởi quota của OPEC.
Giới phân tích cho rằng việc UAE rời đi có thể gây xáo trộn và làm suy yếu OPEC. "Đây là bước ngoặt lớn với tổ chức này", Jorge Leon, trưởng bộ phận phân tích địa chính trị tại hãng tư vấn Rystad, nhận định. "Ngoài Arab Saudi, UAE là một trong số ít thành viên có công suất dự phòng đáng kể, giúp nhóm này gây tác động lên thị trường và ứng phó với các cú sốc nguồn cung", ông viết trong báo cáo.
Hạn ngạch sản xuất OPEC hiện áp dụng với UAE là 3,2 triệu thùng dầu thô một ngày. Trong khi đó, nước này có thể sản xuất tối đa 5 triệu thùng, Robin Mills - CEO hãng tư vấn QamarEnergy cho biết trên CNN. Mức tăng này tương đương 1-2% nhu cầu dầu toàn cầu. Trong thông báo ngày 28/4, Bộ trưởng Năng lượng UAE Suhail Al Mazrouei cũng cho biết họ có tham vọng đạt mức sản xuất 5 triệu thùng một ngày vào năm 2027 và muốn tự do theo đuổi mục tiêu này hơn.
Bên ngoài trụ sở OPEC tại Vienna, Áo, tháng 5/2024. Ảnh: Reuters
Tuy nhiên, giới phân tích cho rằng tác động từ việc UAE tăng sản lượng dầu chưa thể xảy ra trong ngắn hạn. Hiện tại, thị trường dầu đang gián đoạn chưa từng có, do eo biển Hormuz bị phong tỏa từ đầu chiến sự. OPEC cho biết sản lượng dầu thô của các nước vùng Vịnh trong OPEC+ đã giảm gần 8 triệu thùng một ngày trong tháng 3 so với tháng trước đó, do cả Arab Saudi, UAE, Kuwait và Iraq đều phải giảm sản xuất khi bị hạn chế xuất khẩu.
Ngoài Hormuz, Arab Saudi hiện sử dụng đường ống dẫn dầu có công suất 7 triệu thùng một ngày qua Biển Đỏ. UAE cũng có thể xuất khẩu 1,5-1,8 triệu thùng một ngày qua một đường ống nối đến cảng Fujairah. Tuy nhiên, các tuyến này chưa thể bù đắp hoàn toàn sự thiếu hụt khi eo biển Hormuz đóng cửa.
Năm 2025, xuất khẩu dầu thô của OPEC chiếm khoảng 47% xuất khẩu dầu thô bằng đường biển toàn cầu, theo hãng dữ liệu Kpler. Đến tháng 3, tỷ lệ này chỉ còn gần 35%.
Trên Reuters, một số nhà phân tích có chung nhận định sau khi chiến sự kết thúc, OPEC sẽ khó có thể điều khiển giá dầu theo cách họ đã từng làm trong quá khứ.
"Trong ngắn đến trung hạn, thị trường có thể hấp thụ lượng dầu bổ sung từ UAE, trong bối cảnh tồn kho toàn cầu đang giảm và nhu cầu lấp đầy kho dự trữ tăng lên. Tuy nhiên, về dài hạn, việc rời đi này lại đặt ra câu hỏi chiến lược: nếu các nước sản xuất khác bắt đầu ưu tiên thị phần thay vì tuân thủ hạn ngạch, khả năng OPEC điều tiết thị trường thông qua sự hợp tác điều chỉnh nguồn cung có thể bị nghi ngờ", Ole Hansen - nhà phân tích tại Saxo Bank kết luận.
Hà Thu (theo Reuters, CNN, CNBC)








