Ở vùng cửa sông này của Hà Tĩnh, dân nuôi con gì mà chả phải cho ăn, hễ lớn là kéo lên bán, lãi gần 100 triệu/vụ?

2 hours ago 5
Quảng Cáo

0943778078

Thứ Bảy, ngày 01/08/2026 10:00 AM (GMT+7)

Tận dụng lợi thế vùng nước lợ ven sông Cửa Sót, anh Trần Văn Phúc, ở xã Lộc Hà (tỉnh Hà Tĩnh) đã mạnh dạn đầu tư mô hình nuôi vẹm xanh. Nuôi con vẹm này không tốn tiền mua thức ăn chăn nuôi, mang lại lợi nhuận gần 100 triệu đồng mỗi vụ.

Nuôi con vẹm xanh bám dày đặc theo dây ở cửa sông, nông dân chả phải cho ăn

Trong bối cảnh nguồn lợi thủy sản ven bờ ngày càng suy giảm do cường độ khai thác lớn và biến đổi môi trường, việc chuyển đổi từ khai thác sang nuôi trồng thủy sản đang trở thành xu hướng tất yếu tại nhiều địa phương ven biển Hà Tĩnh.

Mô hình nuôi vẹm xanh của gia đình anh Trần Văn Phúc, ở thôn Thạch Bằng, xã Lộc Hà (tỉnh Hà Tĩnh) đang ra mở hướng sinh kế mới cho ngư dân ven biển Hà Tĩnh. Ảnh: LH

Từ thực tế đó, anh Trần Văn Phúc, ở thôn Thạch Bằng, xã Lộc Hà (tỉnh Hà Tĩnh) đã lựa chọn nuôi vẹm xanh như một hướng đi mới nhằm nâng cao thu nhập và phát triển sinh kế bền vững.

Nhiều năm gắn bó với nghề biển, anh Trần Văn Phúc nhận thấy sản lượng khai thác tự nhiên giảm dần qua từng năm, trong khi chi phí nhiên liệu, nhân công và trang thiết bị ngày càng tăng.

Thay vì tiếp tục phụ thuộc vào nguồn lợi tự nhiên, anh Phúc chủ động tìm hiểu các mô hình nuôi biển thông qua internet, đồng thời học hỏi kinh nghiệm từ các địa phương có nghề nuôi vẹm xanh phát triển.

Kỹ thuật nuôi vẹm xanh phù hợp với vùng cửa sông, ven biển có độ mặn ổn định và dòng chảy lưu thông tốt. Ảnh: LH

Qua quá trình khảo sát, anh Trần Văn Phúc nhận thấy vẹm xanh là đối tượng nuôi phù hợp với điều kiện tự nhiên vùng cửa sông Cửa Sót bởi khả năng thích nghi tốt, ít dịch bệnh, chi phí đầu tư thấp và đặc biệt sử dụng hoàn toàn nguồn thức ăn tự nhiên trong môi trường nước.

Trước khi đầu tư quy mô lớn, anh Trần Văn Phúc cùng một số hộ dân mua giống vẹm xanh từ khu vực Cửa Hội (tỉnh Nghệ An) về thả nhằm tái tạo nguồn lợi thủy sản.

Kết quả cho thấy vẹm xanh phát triển nhanh, tỷ lệ sống cao và thích nghi tốt với điều kiện thủy văn địa phương.

Ở vùng cửa sông này của Hà Tĩnh, dân nuôi con gì mà chả phải cho ăn, hễ lớn là kéo lên bán, lãi gần 100 triệu/vụ? - 5

Vẹm xanh có thị trường tiêu thụ rộng, được nhiều nhà hàng hải sản trong nước ưa chuộng và giàu tiềm năng xuất khẩu sang các thị trường quốc tế. Ảnh: LH

Đây chính là cơ sở để anh Trần Văn Phúc mạnh dạn đầu tư hơn 100 m2 bè nổi với khoảng 2.000 dây treo phục vụ thu giống và nuôi thương phẩm.

"Tổng kinh phí đầu tư hệ thống bè nổi, dây treo và vật liệu ban đầu khoảng 40 triệu đồng. So với nhiều đối tượng nuôi biển khác, mức đầu tư này tương đối thấp nhưng vẫn tạo ra hiệu quả kinh tế ổn định nếu thực hiện đúng quy trình kỹ thuật", anh Trần Văn Phúc, bật mí.

Đặc tính tự lọc sinh vật phù du và chất lơ lửng trong nước giúp vẹm xanh sinh trưởng tốt, đồng thời giảm chi phí thức ăn. Ảnh: LH

Mô hình nuôi vẹm xanh không phải sử dụng thức ăn công nghiệp. Vẹm hấp thụ sinh vật phù du, các chất hữu cơ lơ lửng trong nước làm nguồn dinh dưỡng nên người nuôi gần như không phát sinh chi phí thức ăn, đồng thời hạn chế ô nhiễm môi trường và giảm đáng kể giá thành sản xuất",

Nuôi vẹm xanh mở ra hướng phát triển nghề biển bền vững, nâng cao thu nhập cho ngư dân ven biển.

Để mô hình đạt hiệu quả cao, việc lựa chọn vùng nuôi được xem là yếu tố quyết định. Theo kinh nghiệm của anh Trần Văn Phúc, khu vực đặt bè phải có dòng chảy lưu thông tốt, độ mặn ổn định từ 28-35% và môi trường nước sạch.

 PV

Theo anh Trần Văn Phúc, ưu điểm nuôi vẹm xanh là vốn đầu tư thấp, dễ chăm sóc và không phát sinh chi phí thức ăn nhờ tận dụng nguồn sinh vật phù du tự nhiên. Ảnh: PV

Bè nuôi được thiết kế bằng tre, mét kết hợp các thùng phi nổi nhằm đảm bảo độ chắc chắn. Phía dưới bè là hệ thống dây treo làm giá thể để vẹm giống ngoài tự nhiên bám vào sinh trưởng.

Mỗi dây có thể thu được từ 12-15 kg vẹm giống, tạo nguồn con giống chất lượng phục vụ nuôi thương phẩm.

Thời điểm thích hợp để thu giống kéo dài từ giữa tháng Giêng đến hết tháng 3 âm lịch. Sau khoảng 4-5 tháng ương nuôi, khi vẹm đạt kích cỡ giống sẽ được chuyển xuống bãi nuôi thương phẩm rộng khoảng 2 ha.

Mô hình nuôi vẹm xanh bằng giàn cọc tre, cọc gỗ và dây treo giúp tận dụng tối đa diện tích mặt nước, tạo điều kiện thuận lợi cho vẹm sinh trưởng và phát triển. Ảnh: LH

Theo anh Trần Văn Phúc, nền đá hoặc san hô là điều kiện lý tưởng để vẹm xanh bám chắc và phát triển. Ngược lại, nếu nuôi trên nền cát, bùn sẽ dễ phủ lấp khiến tỷ lệ sống giảm đáng kể.

Trong suốt quá trình nuôi, người nuôi cần thường xuyên theo dõi diễn biến môi trường nước, đặc biệt vào mùa mưa khi lượng phù sa và bùn cát tăng cao. Nếu phát hiện nguy cơ ảnh hưởng đến bãi nuôi, cần kịp thời di chuyển hoặc có biện pháp bảo vệ nhằm hạn chế thiệt hại.

Sau 6-8 tháng nuôi thương phẩm, vẹm đạt kích cỡ khoảng 35-40 con/kg là có thể thu hoạch. Đây là công đoạn khá vất vả bởi người nuôi phải trực tiếp lặn xuống đáy bãi, sử dụng bình ôxy cùng các thiết bị chuyên dụng để thu gom.

Những con chưa đạt kích cỡ thương phẩm sẽ tiếp tục được thả lại nhằm nâng cao năng suất và tối ưu hiệu quả sản xuất.

 LH

Theo anh Trần Văn Phúc, nuôi cọc là phương pháp cắm cọc tre hoặc cọc gỗ trực tiếp xuống bãi bồi ven biển, cửa sông để vẹm xanh tự nhiên bám vào hoặc chủ động cấy giống. Ảnh: LH

Hiện nay, mỗi vụ gia đình anh Phúc thu hoạch hơn 4,5 tấn vẹm thương phẩm. Với giá bán dao động từ 25.000-30.000 đồng/kg, doanh thu đạt khoảng 120-150 triệu đồng, sau khi trừ các khoản chi phí còn lãi gần 100 triệu đồng/vụ.

Không chỉ mang lại nguồn thu ổn định, mô hình nuôi vẹm xanh còn phát huy hiệu quả sử dụng diện tích mặt nước ven sông, ven biển, tận dụng nguồn thức ăn tự nhiên, giảm phát thải và hạn chế tác động tiêu cực đến hệ sinh thái.

Vẹm xanh không chỉ mang lại giá trị kinh tế cao cho người nuôi mà còn là nguồn thực phẩm giàu dinh dưỡng, được người tiêu dùng ưa chuộng. Ảnh: LH

Đây được xem là hướng chuyển đổi sinh kế phù hợp đối với ngư dân khai thác ven bờ trong bối cảnh nguồn lợi thủy sản tự nhiên ngày càng suy giảm.

Thực tế từ mô hình nuôi vẹm xanh của anh Trần Văn Phúc cho thấy, khi người dân chủ động đổi mới tư duy sản xuất, mạnh dạn ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và lựa chọn đối tượng nuôi phù hợp với điều kiện tự nhiên, nghề nuôi biển hoàn toàn có thể trở thành động lực phát triển kinh tế địa phương.

Doanh thu 3,6 tỷ chỉ sau một năm bỏ vốn nuôi con động vật hoang dã bán làm con đặc sản ở Quảng Trị

Sau một năm mở trang trại nuôi chồn hương (một loài động vật hoang dã được phép nuôi thương mại) ở xã Cồn Tiên (tỉnh Quảng Trị), bà Bùi Thị Nghĩa đã...

Theo Lam Hồng ([Tên nguồn])

Nguồn: [Link nguồn]

-29/07/2026 11:25 AM (GMT+7)

Đắt - Độc - Lạ Xem thêm
Read Entire Article