Ngày còn trẻ, vừa vào chiến trường Nam bộ tôi đã chuẩn bị cho mình tư thế và cách làm việc của một nhà báo. Tôi vẫn làm thơ nhưng chưa công bố và rất ít người biết tôi có làm thơ.
Bằng ngược lại, cơ quan tôi và Đài Giải phóng, Đài Tiếng nói Việt Nam thì đều biết tôi làm báo, và là nhà báo không đến nỗi nào. Tôi chuyên viết về binh vận cho hai đài. Còn nhớ, bài viết đầu tiên của tôi ở chiến khu R là về số phận đau khổ của một sĩ quan cấp úy trong quân đội Sài Gòn. Bài viết khi gửi qua Đài Giải phóng đã được thủ trưởng bên ấy khen ngợi và cho phát ngay. Với tôi, thế là đã hoàn thành nhiệm vụ.

Minh họa: Văn Nguyễn
Nhưng tôi vào chiến trường không phải để ở mãi trên chiến khu, tôi kiên quyết xin đi thẳng xuống chiến trường đồng bằng. Tới tháng 9.1972, tôi được thỏa nguyện, được đi xuống chiến trường Nam lộ bốn Cai Lậy Mỹ Tho. Đi bộ trên núi rừng Trường Sơn mất 4 tháng, giờ lại được đi xuồng và lội nước qua Đồng Tháp Mười mất 1 tháng rưỡi. Gian khổ mà vui. Ở Cai Lậy, tôi được biên chế vào đội công tác, bám sát chiến trường, và quan trọng hơn, là bám sát nhân dân vùng ven và trong các khu dồn. Thường anh em đội công tác chúng tôi gặp dân vào ban đêm, đến từng nhà, vào tận trong khu dồn để gặp bà con mình đang bị "nhốt" trong đó.
Có đêm, tôi tới thăm một bác nông dân đã trên 70 tuổi. Bác mời tôi ngồi ngoài sân, dưới trang thờ, hỏi tôi từ miền Bắc vào đây, tôi đã được học tập thế nào ngoài đó. Tôi thưa với bác là tôi đã tốt nghiệp đại học, vào chiến trường Nam bộ để làm báo, bà con ở đây gọi là làm nhật trình. Bác rất vui, mời tôi uống rượu. Cũng là rượu đế thôi, nhưng rượu của bác rất ngon và để trong bình sứ cổ có vòi để rót. Hai chén hạt mít, hai bác cháu ngồi đối ẩm.
Bác là một lão nông từ thời mở đất, có học chữ Nho nên bác nói nửa Nôm nửa Hán. Là nông dân xưa có học, bác mặc quần lá tọa, áo bà ba trắng, búi tóc củ hành, đúng hình ảnh một thí sinh ngày xưa đi thi Hương, thi Hội. Bác chậm rãi kể tôi nghe về thời mở đất, về cách làm nông ở Nam bộ, về khói đốt đồng, về những buổi săn chuột ngoài đồng, bắt lươn trong hang. Về cách bắt cá bằng tay không dưới rạch, về những món ăn đạm bạc nhưng rất ngon lành của người nông dân Nam bộ như canh chua bông so đũa, cá linh nấu bông điên điển, chuột đồng nướng lu…
Tôi nghe mê mải những câu chuyện hết sức thú vị của bác, và sau này, những câu chuyện ấy đều vào những trường ca của tôi. Nhưng trước hết là vào những bài báo của tôi, giúp tất cả đậm màu sắc Nam bộ.
Viết báo, với tôi không chỉ là viết về những sự kiện, mà chủ yếu viết về con người trong những sự kiện ấy, viết về những khác biệt ở từng địa phương, về người nông dân Nam bộ có những cá tính gì, cách sống của họ ra sao. Những bài báo như thế rất gần với tản văn, và tôi tin người nghe qua đài sẽ cảm thấy thú vị khi biết thêm những vùng đất mới, những con người mình chưa gặp nhưng rất thân quen.
Suốt dọc dài Tổ quốc, mỗi vùng miền đều có những tính cách riêng, nếu chúng ta khai thác được thì qua những bài báo, đất nước cũng hiện ra với nhiều sắc màu. Ai cho tôi những màu sắc ấy, những hình ảnh rất đẹp ấy? Chính là Nhân dân.
Khi ta gặp những người dân bình thường, "nhỏ bé" và nghe họ kể chuyện, nghe họ tâm tình, ta bỗng thấy mình như người học trò may mắn tiếp thu được những gì độc đáo nhất, thú vị nhất, đáng ghi nhớ nhất. Bấy giờ, những bài báo của ta không chỉ có sức nặng của tư tưởng hay của chính luận, mà còn có những màu sắc lung linh, đi vào lòng bạn đọc, bạn nghe đài một cách vừa tự nhiên vừa ấm áp.
Tất cả những điều ấy, tôi có được là nhờ người thầy lớn nhất: Nhân dân của tôi.
Tôi làm báo và làm thơ song song, thời gian gần như nhau, khoảng hơn nửa thế kỷ rồi. Từ trước cho tới bây giờ, tôi viết báo để nuôi thơ, vì thơ không mang lại tiền bạc. Còn báo thì nếu được đăng sẽ mang về nhuận bút, dù rất khiêm tốn. Một anh bạn làm báo nói với tôi, đó là tiền lương thiện nhất mà mình kiếm được.
Thì mình đâu có biết kiếm tiền không lương thiện là thế nào, đời mình có lừa ai đâu?! Khi Nhân dân đã là người thầy lớn nhất của mình thì sự lương thiện đã trở thành bản chất, cứ thế mà sống thôi.

1 hour ago
7



