Người ngồi ngoài chuỗi

1 hour ago 2
Quảng Cáo

0943778078

Đậu Anh Tuấn

Đậu Anh Tuấn

Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - VCCI

Cách đây vài năm, tôi đến một xưởng cơ khí ở vùng công nghiệp phía Bắc. Chủ doanh nghiệp, tầm ngoài năm mươi, dẫn tôi đi xem dãy máy CNC còn mới, khoe từng con máy như khoe con. Ông kể đã bỏ ra gần hai triệu USD để có bằng ấy thiết bị, đúng chuẩn Nhật, độ chính xác không kém ai.

Tôi hỏi một câu rất tự nhiên: cách đây năm cây số có nhà máy của một tập đoàn điện tử lớn, mỗi năm xuất khẩu vài tỷ USD, sao ông không cung ứng cho họ?

Ông im lặng một lúc, rồi nói: "Tôi thử rồi, gửi mẫu rồi. Họ bảo chi tiết làm tốt. Nhưng họ đã có nhà cung ứng được phê duyệt từ bên kia mang sang. Họ hỏi tôi có chứng nhận hệ thống chất lượng ngành không, có bảng bóc tách giá thành theo cơ chế mở không, tài liệu kỹ thuật tiếng Anh đâu. Tôi chưa có gì cả".

Cuối cùng, xưởng của ông sống bằng việc gia công khuôn nhựa cho doanh nghiệp trong nước và làm giá kê hàng cho chính nhà máy ấy.

Năm cây số. Đó là khoảng cách mà nền công nghiệp Việt Nam chưa đi hết trong suốt 20 năm.

Chuyện này thường được giải thích do "năng lực yếu". Tôi cho rằng cách nói đó vừa đúng vừa không công bằng, và quan trọng hơn, nó dẫn chính sách đi sai chỗ.

Thứ nhất, phần lớn vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam nằm ở khâu cuối của chuỗi: lắp ráp, gia công. Đặc trưng của mô hình này là nhà cung ứng đi theo. Tập đoàn dẫn dắt mang sang cả một hệ nhà cung ứng cấp một đã được phê duyệt ở tầm toàn cầu. Nói cách khác, những chiếc ghế quan trọng đã có người ngồi từ trước ngày nhà máy động thổ. Doanh nghiệp Việt được mời vào bàn, nhưng là ở những chỗ còn trống: bao bì, giá kê, chi tiết nhựa đơn giản.

Thứ hai, khoảng cách năng lực thật sự không nằm ở máy móc mà ở phần mềm của doanh nghiệp: hệ thống chất lượng được chứng nhận theo chuẩn ngành, năng lực kiểm soát thay đổi thiết kế, kế toán giá thành đủ minh bạch để chào giá theo cơ chế mở, truy xuất nguồn gốc từng lô, tài liệu kỹ thuật đúng chuẩn. Đây là những khoản chi một lần, không tạo ra sản phẩm nhưng có thể ngốn bằng một đến hai năm lợi nhuận của doanh nghiệp cỡ vừa. Ông chủ xưởng cơ khí kia đủ can đảm bỏ hai triệu USD mua máy, vì máy là thứ nhìn thấy được, thế chấp được. Ông không dám bỏ hai tỷ đồng cho một bộ chứng nhận, vì đó là thứ vô hình và chưa chắc đổi được đơn hàng.

Thứ ba là độ lệch pha về vốn. Muốn vào chuỗi, doanh nghiệp phải bỏ tiền trước cho khuôn mẫu, chi phí phát triển sản phẩm, chạy thử... tất cả diễn ra trước khi có đơn hàng thương mại đầu tiên. Ngân hàng cho vay dựa trên tài sản thế chấp, hầu như không cho vay dựa trên hợp đồng và đơn hàng. Thành ra có doanh nghiệp nắm được cơ hội mà không có vốn để nhận cơ hội.

Điều thứ tư ít ai nói ra: trong suốt thời gian dài, nội địa hoá không có động lực thương mại. Nhờ mạng lưới hiệp định thương mại tự do, linh kiện nhập về gần như thuế bằng không. Mua trong nước không tiết kiệm được đồng thuế nào, lại thêm rủi ro chất lượng và rủi ro tiến độ. Với một giám đốc mua hàng, nội địa hoá là chi phí, không phải lợi ích. Việt Nam đã đi ngược thị trường mười lăm năm và tự hỏi vì sao không thành công.

Nhưng lần này khác. Tôi lạc quan hơn, vì thị trường lần đầu tiên đứng cùng phía với chính sách.

Có ba lực đang tạo ra nhu cầu thật cho hàm lượng nội địa. Yêu cầu chứng minh xuất xứ ngày càng ngặt nghèo, buộc các tập đoàn phải biết rõ từng chi tiết đến từ đâu. Yêu cầu khai báo dấu vết carbon theo từng sản phẩm buộc họ phải kiểm soát được nhà cung ứng ở những lớp sâu. Và sau những cú sốc chuỗi cung ứng vừa qua, không tập đoàn nào còn muốn phụ thuộc vào một nguồn duy nhất. Nội địa hoá hôm nay đã có giá trị thương mại. Chính sách bây giờ không cần đẩy một tảng đá lên dốc, chỉ cần thúc cho một xu hướng sẵn có đi nhanh hơn.

Đây là lý do Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đến rất đúng lúc. Nghị quyết đặt mục tiêu tỷ lệ nội địa hoá bình quân trong các ngành công nghiệp chủ lực đạt 45 đến 50%, khoảng 10.000 doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi, trong đó có 500 đến 1.000 nhà cung ứng cấp một. Điều tôi tâm đắc nhất không phải các con số. Đó là hai chuyển hướng về cách làm: chuyển từ ưu đãi theo đầu vào sang hỗ trợ gắn với kết quả thực hiện cam kết; và yêu cầu doanh nghiệp đầu tư nước ngoài công bố nhu cầu mua sắm, tiêu chuẩn kỹ thuật và lộ trình nội địa hoá.

Nghe rất kỹ thuật, nhưng với ông chủ xưởng cơ khí kia, đó là lần đầu tiên ông biết mình cần đạt cái gì, cho ai, vào lúc nào. Suốt 20 năm, ông chỉ thiếu đúng thông tin ấy.

Tôi đề nghị ba cơ chế rất cụ thể.

Một là Nhà nước đồng tài trợ một nửa chi phí vượt rào: chứng nhận hệ thống, khuôn mẫu, thuê chuyên gia đánh giá. Không cấp tiền cho sản xuất, chỉ chia sẻ khoản chi một lần. Doanh nghiệp bỏ nửa còn lại nên tự sàng lọc, không sinh ra phong trào.

Hai là mở kênh cho vay dựa trên đơn hàng và khoản phải thu từ tập đoàn, kèm quỹ bảo lãnh, thay vì chỉ cho vay dựa trên bất động sản thế chấp.

Ba là hợp đồng phát triển nhà cung ứng ba bên: Nhà nước, tập đoàn dẫn dắt và doanh nghiệp Việt cùng ký, giải ngân theo cột mốc. Đạt chứng nhận thì nhận một phần, chạy thử thành công nhận tiếp, có đơn hàng thương mại nhận phần cuối. Cách này buộc tập đoàn phải thực sự đặt hàng chứ không chỉ ủng hộ trên giấy, và Nhà nước chỉ trả tiền khi có kết quả.

Còn một việc nữa, tôi cho là kênh lan toả mạnh nhất mà chúng ta coi nhẹ nhất. Nghị quyết 10 có nhắc, nhưng cần cơ chế thật: khuyến khích chuyên gia, kỹ sư, quản lý người Việt đã làm trong khu vực đầu tư nước ngoài ra lập doanh nghiệp riêng. Một kỹ sư trưởng rời nhà máy mang theo cả ba thứ mà 15 năm chương trình công nghiệp hỗ trợ không tạo ra được: tri thức kỹ thuật, chuẩn mực làm việc, và quan hệ với bộ phận mua hàng. Đài Loan và Hàn Quốc đã đi lên bằng chính con đường này. Việt Nam cần quỹ đầu tư mạo hiểm cho công nghiệp, không chỉ cho khởi nghiệp công nghệ số, và cần xử lý minh bạch chuyện sở hữu trí tuệ để việc này diễn ra hợp pháp, đường hoàng.

Sau cùng, tôi muốn nói về một điều tưởng nhỏ mà quyết định mọi thứ: cái thước.

Nghị quyết 10 đặt mục tiêu thu hút 200 đến 300 tỷ USD vốn đăng ký cho giai đoạn 2026-2030. Con số ấy chắc sẽ đạt. Nhưng nếu báo cáo hằng năm của các địa phương vẫn chỉ có vốn đăng ký ở dòng đầu tiên, thì mọi tinh thần mới của Nghị quyết sẽ bị vô hiệu hoá ngay ở cấp thực thi. Người ta luôn làm những gì được đo.

Vì vậy tôi đề nghị Bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả mà Nghị quyết yêu cầu xây dựng phải có những con số rất khó chối: năm nay địa phương có thêm bao nhiêu doanh nghiệp Việt vào chuỗi, bao nhiêu doanh nghiệp lên được cấp một, tỷ lệ giá trị gia tăng tạo ra tại Việt Nam là bao nhiêu, có bao nhiêu người Việt đang giữ vị trí kỹ thuật và quản lý trong các dự án lớn.

Tôi tin vào sức mạnh của việc công khai con số. Không phải để chê ai, mà vì khi một địa phương thấy mình đứng ở đâu, họ sẽ tự tìm cách bước lên.

Còn với ông chủ xưởng cơ khí, thành công của Nghị quyết 10 sẽ được đo bằng một điều giản dị: đến một ngày, năm cây số ấy không còn là khoảng cách nữa.

Đậu Anh Tuấn

Read Entire Article