Từ giảng đường đến chiến trường
Năm 1971, khi đang là sinh viên năm thứ 3 khoa Sư phạm Toán, Trường Đại học Vinh, ông Hoàng Khắc Huệ (SN 1949, trú phường Thành Vinh, Nghệ An) nhận được giấy gọi khám nghĩa vụ quân sự. Từ giây phút ấy, giảng đường khép lại sau lưng chàng trai 22 tuổi, mở ra hành trình của một người lính.
Ngày lên đường nhập ngũ, cha vắng nhà, chỉ có người mẹ tiễn con trai ra đầu ngõ. Bà từng mất người con cả trong kháng chiến chống Pháp nên nỗi lo lại chồng thêm khi người con trai thứ khoác ba lô ra trận. Nhưng trước vận mệnh đất nước, người mẹ ấy vẫn lặng lẽ động viên con lên đường. Chàng sinh viên trẻ nắm chặt đôi bàn tay gầy guộc của mẹ, khẽ nói như để trấn an: “Mẹ yên tâm, con không chết được đâu”.
Ông Hoàng Khắc Huệ hồi tưởng lại không khí tiến công thần tốc trong chiến dịch Hồ Chí Minh.
Nói rồi, ông vội vã rời ngôi nhà nhỏ, băng qua những con đường làng quen thuộc để sang huyện Đô Lương (cũ) tìm đường tới điểm tập kết. Một năm sau, tháng 6/1972, ông cùng gần 250 sinh viên Trường Đại học Vinh được bổ sung vào chiến trường B. Đó là những ngày gió Lào hun rát, nắng như đổ lửa trên vùng quê xứ Nghệ.
Người lính trẻ Hoàng Khắc Huệ được biên chế vào Trung đoàn 66, Sư đoàn 304 – đơn vị chiến đấu ở chiến trường Quảng Trị, một trong những nơi khốc liệt nhất thời điểm ấy. Từ Quảng Trị, rồi các chiến trường miền Trung, tuổi trẻ của ông đi qua những trận đánh liên miên giữa bom đạn. Năm 1974, khi Quân đoàn 2 được thành lập, Sư đoàn 304 trở thành lực lượng chủ lực. Lúc này, Hoàng Khắc Huệ là trợ lý tác chiến của Trung đoàn 66.
Sau chiến thắng giải phóng Đà Nẵng ngày 29/3/1975, đơn vị ông tiếp tục tiến vào Nam, đánh tan các tuyến phòng thủ của quân đội Sài Gòn tại Phan Rang, Hàm Tân. Những chiến thắng dồn dập mở đường cho chiến dịch Hồ Chí Minh – chiến dịch quyết định vận mệnh đất nước.
Cuộc hành quân thần tốc vào Sài Gòn
Sau khi phá vỡ tuyến phòng thủ Phan Rang, Sư đoàn 304 trong đội hình Quân đoàn 2 nhận lệnh thần tốc tiến về Sài Gòn theo quốc lộ 1. Theo tính toán của chính quyền Sài Gòn lúc bấy giờ, Quân đoàn 2 phải mất hơn một tháng mới có thể tiến từ Ninh Thuận vào Sài Gòn. Nhưng thực tế hoàn toàn khác.
“Nhiều người dân sẵn sàng dùng xe tải, xe cá nhân chở bộ đội vào chiến trường. Mỗi xe chở cả một trung đội nên tốc độ hành quân rất nhanh”, ông Huệ nhớ lại.
Tham gia nhiều chiến dịch nhưng có mặt ở Dinh Độc Lập trưa 30/4/1975 là niềm hạnh phúc vô bờ của người lính bộ binh Hoàng Khắc Huệ.
Nhờ sự giúp sức của nhân dân, đoàn quân tiến như vũ bão. Chỉ hơn một ngày hành quân, ngày 24/4/1975, đơn vị đã áp sát Sài Gòn. Ngày 26/4, Chiến dịch Hồ Chí Minh chính thức bắt đầu. Hai ngày sau, sau khi đánh chiếm căn cứ Nước Trong (Long Thành, Đồng Nai), Quân đoàn 2 thành lập binh đoàn thọc sâu gồm bộ binh, xe tăng, pháo binh, công binh và phòng không để tiến nhanh vào nội đô.
Chiều 29/4, đoàn quân xuất phát từ căn cứ Nước Trong, vượt cầu sông Buông, cầu xa lộ Biên Hòa trong đêm tối. Những đoàn xe tăng, xe chở bộ đội nối dài hướng về Sài Gòn. Gần 6 giờ sáng 30/4, đoàn quân tiến đến cầu Sài Gòn – cửa ngõ phía Đông thành phố. Tại đây, quân đội Sài Gòn chống trả quyết liệt, nhưng trước sức tiến công như thác lũ của quân giải phóng, hệ thống phòng thủ nhanh chóng tan rã. “Chính quyền địch trên đường tiến quân bỏ chạy hết. Đường phố vắng ngắt. Chúng tôi cứ theo bản đồ tiến thẳng vào trung tâm”, ông kể.
Buổi sáng lịch sử
Dọc các tuyến phố, những tấm biển cảnh báo của chính quyền Sài Gòn vẫn còn treo đó, nhưng lúc này chỉ còn là dấu vết cuối cùng của một chế độ đang sụp đổ. Khoảng hơn 10 giờ ngày 30/4/1975, Trung đoàn 66 tiến đến cổng Dinh Độc Lập. “Đường vào dinh vắng lặng. Chúng tôi cũng không ngờ lại tiến vào nhanh như vậy”, ông Huệ nhớ lại.
Khi cổng phụ Dinh Độc Lập mở ra, Đại úy Phạm Xuân Thệ – Trung đoàn phó Trung đoàn 66 – ngồi trên xe jeep tiến vào trước, bộ binh theo sau. Trung đoàn 66 trở thành một trong những đơn vị đầu tiên có mặt tại Dinh Độc Lập trong buổi sáng lịch sử ấy.
Ít phút sau, lá cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tung bay trên nóc dinh. Người lính trẻ Hoàng Khắc Huệ đứng lặng giữa sân dinh, nhìn lá cờ phần phật trong nắng tháng Tư. “Khoảnh khắc ấy, suốt cuộc đời người lính chúng tôi không thể nào quên được”, ông xúc động.
Trung tá Hoàng Khắc Huệ nói chuyện lịch sử với tuổi trẻ Nghệ An nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
11 giờ 30 phút trưa cùng ngày, Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Chiến tranh kết thúc. Những người lính vượt hàng nghìn cây số từ miền Bắc vào Nam ôm chầm lấy nhau giữa niềm vui vỡ òa. “Chúng tôi cười, hát, reo mừng đến tận chiều tối mà không thấy mệt, dù suốt từ đêm 29/4 chỉ ăn vài mẩu lương khô”, ông kể.
Ngoài phố, người dân Sài Gòn ùa ra đón bộ đội. Cờ hoa rực đỏ khắp các con đường. Tiếng hát “Nối vòng tay lớn” vang lên giữa biển người trong ngày non sông sum họp.
Sau ngày đất nước thống nhất, ông Hoàng Khắc Huệ tiếp tục cùng đơn vị sang Campuchia làm nhiệm vụ quốc tế, rồi tham gia bảo vệ biên giới phía Bắc năm 1979. Nhiều năm sau, ông công tác tại Trường Quân sự Quân đoàn 2 trước khi nghỉ hưu với quân hàm Trung tá vào năm 1993.
Trung tá Hoàng Khắc Huệ cùng vợ.
Rời quân ngũ, người cựu chiến binh Hoàng Khắc Huệ trở về cuộc sống bình dị nơi quê nhà Thành Vinh. Nhưng mỗi độ tháng Tư về, ký ức của người lính năm xưa lại sống dậy nguyên vẹn. Đó là ký ức về tuổi trẻ rời giảng đường ra trận. Ký ức về đoàn quân thần tốc tiến vào Sài Gòn. Và trên hết là ký ức về buổi sáng lịch sử khi lá cờ chiến thắng tung bay trên Dinh Độc Lập – khoảnh khắc mà, như lời ông nói, “cả đời người lính không bao giờ quên”.

1 day ago
2







