Viện Chiến lược và Chính sách giáo dục phối hợp Ban quản lí Đề án ngoại ngữ Quốc gia, Cục Nhà giáo và Quản lí Cán bộ Giáo dục thuộc Bộ GD&ĐT và Hội đồng Anh tổ chức hội thảo tham vấn xây dựng khung phát triển chuyên môn cho giáo viên Việt Nam.
Bà Nguyễn Thu Giang (Viện Chiến lược và Chính sách Giáo dục) chia sẻ kết quả khảo sát của nhóm nghiên cứu giai đoạn 2 với hơn 2.100 giáo viên tại 34 tỉnh, thành phố. Kết quả phác họa bức tranh toàn cảnh về thực trạng và nhu cầu phát triển chuyên môn giáo viên. Cuộc khảo sát được triển khai giữa sự phối hợp giữa Viện Chiến lược và Chính sách Giáo dục và Hội đồng Anh.
Kết quả chỉ ra nhiều khoảng trống quan trọng trong việc ứng dụng khung năng lực hiện hành, đồng thời đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc đổi mới toàn diện nhằm phục vụ mục tiêu từng bước đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học.
Tự đánh giá cao nhưng "đối mặt" áp lực thực tiễn
Khảo sát được thiết kế phân tầng trên cả 3 miền Bắc - Trung - Nam, bao phủ từ cấp tiểu học, THCS, THPT đến giáo dục đại học, trong đó có gần 19% giáo viên thuộc địa bàn vùng khó khăn và đặc biệt khó khăn.
Kết quả cho thấy, đa số giáo viên tham gia khảo sát đều có kinh nghiệm và số năm công tác dày dặn (trên 54% có hơn 15 năm giảng dạy). Đáng chú ý, khi tự đánh giá 20 năng lực sư phạm cốt lõi, giáo viên giành điểm số khá cao (trung bình từ 3,75 - 3,95/5).
Tuy nhiên, bức tranh thực tế lại xuất hiện sự lệch pha đáng chú ý ở nhóm năng lực ứng dụng công nghệ mới và đạo đức trong sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI). Xử lí các vấn đề đạo đức liên quan đến AI (như độ chính xác, thiên vị, quyền riêng tư và tính chủ động của người học) là chỉ số duy nhất có mức độ thực hiện trong thực tế thấp hơn so với tầm quan trọng nhận thức, kèm theo tỉ lệ giáo viên chọn "chưa áp dụng" ở mức cao nhất.
Giáo viên trao đổi, thảo luận nhóm tại hội thảo tham vấn xây dựng khung phát triển chuyên môn cho giáo viên Việt Nam. Ảnh: Nghiêm Huê
Đối với nhóm giáo viên dạy các môn khoa học bằng tiếng Anh (CLIL), khoảng trống năng lực càng lộ rõ. Tại các đô thị lớn, năng lực của giáo viên CLIL tương đồng với giáo viên chuyên ngữ; nhưng ở khu vực nông thôn và vùng khó khăn, chỉ số này sụt giảm mạnh.
Nguyên nhân cốt lõi xuất phát từ rào cản trình độ ngoại ngữ, có tới 39,2% giáo viên CLIL tự đánh giá trình độ tiếng Anh chỉ ở mức sơ cấp A1 - A2.
Hơn 64% giáo viên chưa từng sử dụng hoặc không nhớ rõ
Một trong những phát hiện đáng chú ý nhất của báo cáo là mức độ "phủ sóng" thực tế của Khung phát triển chuyên môn giáo viên ngoại ngữ hiện hành (FLTCF - ban hành theo Công văn 2069/BGDĐT-NGCBQLGD năm 2020).
Dù được ban hành từ năm 2020, chỉ có 35,8% giáo viên từng sử dụng hoặc tham khảo bộ khung này trong công việc. Trong khi đó, 27,8% biết đến nhưng chưa từng sử dụng, và có tới 36,4% giáo viên hoàn toàn không biết hoặc không nhớ rõ về sự tồn tại của bộ khung.
Phản hồi từ đội ngũ nhà giáo chỉ ra rằng, khung phát triển chuyên môn hiện hành còn mang tính hướng dẫn hành chính khá cứng nhắc, thiếu linh hoạt theo bối cảnh vùng miền và chưa gắn kết rõ ràng giữa kết quả đánh giá (Đạt, Khá, Tốt) với lộ trình phát triển nghề nghiệp liên tục.
Dù vậy, có đến 74,4% giáo viên ủng hộ việc tiếp tục kế thừa khung phát triển chuyên môn hiện hành làm nền tảng, nhưng yêu cầu cấp thiết là phải nâng cấp, cập nhật (76,5% đồng ý) để ban hành khung mới linh hoạt và sát thực tế hơn.
"Rào cản" bủa vây
Khi được hỏi về khó khăn lớn nhất trong việc tự bồi dưỡng và nâng cao trình độ, giáo viên đã thẳng thắn chỉ ra những rào cản mang tính cấu trúc.
Đó là sự quá tải công việc (82,5%) bao gồm áp lực hồ sơ sổ sách, giờ dạy và công việc hành chính khiến giáo viên gần như không còn quỹ thời gian cho việc học tập chuyên môn liên tục.
Nội dung tập huấn nặng tính lí thuyết (48,8%), nhiều chương trình bồi dưỡng chưa bám sát nhu cầu thực tế lớp học, thiếu tính ứng dụng.
Thách thức tại lớp học khi vận dụng kiến thức mới vào giảng dạy, giáo viên đối mặt với rào cản từ trình độ học sinh không đồng đều (82,3%) và sĩ số lớp học quá đông (65,5%).
Tại khu vực miền núi và vùng đặc biệt khó khăn, giáo viên còn gánh thêm "thiệt thòi kép" từ khoảng cách địa lí xa xôi (40,5%), thiếu giáo viên dạy thay khi đi học (36,9%) và hạ tầng công nghệ thông tin hạn chế (51,8%).
Đề xuất 5 nguyên tắc đổi mới
Nhóm nghiên cứu đã tổng hợp 5 nguyên tắc thiết kế khung thế hệ mới, nhận được sự đồng thuận rất cao (74% - 77%) từ đội ngũ giáo viên toàn quốc. Đó là tiếp tục kế thừa và không xáo trộn.
Phân định rõ năng lực nền tảng cần có ngay khi vào nghề; năng lực phát triển sau tích lũy kinh nghiệm; năng lực nâng cao dành cho lực lượng cốt cán/mentor.
Đưa năng lực số và việc sử dụng AI có đạo đức trở thành mạch năng lực tường minh, đáp ứng xu hướng chuyển đổi số.
Cho phép giáo viên tiến bộ với tốc độ khác nhau ở từng lĩnh vực, thay vì cào bằng mọi chỉ số.
Ưu tiên các hình thức học tập dựa trên thực hành như cố vấn/huấn luyện trực tiếp sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học và dạy học minh họa, thay vì các khóa lý thuyết dài hạn.
Kết quả khảo sát lần này cung cấp cơ sở dữ liệu thực tiễn quan trọng phục vụ việc xây dựng dự thảo khung phát triển chuyên môn giáo viên Việt Nam, góp phần hiện thực hóa Đề án quốc gia về tăng cường dạy và học ngoại ngữ, hướng tới mục tiêu đưa tiếng Anh từng bước trở thành ngôn ngữ thứ hai trong các nhà trường.

12 hours ago
7







