Quảng Cáo
0943778078
Tôi hẹp 70% mạch vành phải, không đau ngực hay khó thở, nguy cơ nhồi máu cơ tim cao không, cần đặt stent chưa? (Hưng, 65 tuổi, Đồng Nai)
Trả lời:
Động mạch vành là hệ thống mạch máu nuôi cơ tim, gồm ba nhánh chính là động mạch liên thất trước, động mạch mũ và động mạch vành phải. Mạch vành hẹp từ 50% trở lên được gọi là bệnh mạch vành. Bệnh hình thành do sự tích tụ canxi, cholesterol, chất béo, nhiều chất khác trong mạch máu tạo thành mảng xơ vữa bám vào thành động mạch, khiến lưu lượng máu nuôi cơ tim bị hạn chế.
Khi còn trẻ, mức độ hẹp mạch vành chỉ khoảng 1-20%, diễn tiến đến 30%, 40% với những dấu hiệu âm thầm, khó nhận biết. Tuổi cao, mảng xơ vữa càng dễ phát triển, mức độ hẹp có thể tăng dần từ 50% đến tắc nghẽn hoàn toàn (100%) nếu không được phát hiện, điều trị hiệu quả.
Hẹp mạch vành 70% là tình trạng mảng xơ vữa đã chiếm phần lớn diện tích lòng mạch, gây hẹp với tỷ lệ lên đến 70% trong lòng động mạch vành. Mức độ này được xem là hẹp đáng kể, bắt đầu làm hạn chế dòng máu đến nuôi tim khi người bệnh làm việc nặng hay gắng sức. Nếu không được kiểm soát, về lâu dài bệnh gây suy giảm chức năng tim.
Tuy nhiên, ở giai đoạn đầu, triệu chứng bệnh thường diễn ra âm thầm, không quá rõ rệt như trường hợp của anh nên dễ lầm tưởng dấu hiệu tuổi tác hay phản ứng của cơ thể khi gắng sức.
Bác sĩ đặt stent cho bệnh nhân hẹp mạch vành để phòng ngừa nhồi máu cơ tim cấp. Ảnh minh họa: Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh
Việc can thiệp bệnh mạch vành không chỉ dựa vào mức độ hẹp mạch máu mà còn phụ thuộc giới tính, tuổi tác, tần suất và mức độ đau thắt ngực cũng như đáp ứng với thuốc điều trị... Thông thường người bị hẹp mạch vành từ 50% đến 80% chưa cần đặt stent nếu không có triệu chứng hoặc yếu tố nguy cơ như hút thuốc lá, ít vận động, bệnh lý nền (đái tháo đường, tăng huyết áp, rối loạn mỡ máu)...
Nếu người bệnh xuất hiện dấu hiệu đau ngực, mệt mỏi, khó thở hoặc có yếu tố nguy cơ đi kèm, bác sĩ sẽ kiểm tra cận lâm sàng chuyên sâu gồm điện tâm đồ, nghiệm pháp gắng sức, đo phân suất dự trữ lưu lượng mạch vành (FFR), từ đó quyết định có đặt stent không.
Bên cạnh việc đánh giá huyết động học, bác sĩ có thể tiến hành thêm kỹ thuật chụp cắt lớp kết quang nội mạch (OCT) - được ví như chiếc "kính hiển vi" trong lòng mạch. OCT giúp quan sát chi tiết cấu trúc mảng xơ vữa để xác định những mảng "không ổn định" (có vỏ mỏng, lõi lipid lớn) có nguy cơ nứt vỡ gây nhồi máu cơ tim cấp, ngay cả khi mạch vành chưa hẹp nặng. Với trường hợp hẹp rất nặng (trên 80-90%), bác sĩ chỉ định can thiệp đặt stent sớm để giải quyết chỗ hẹp, phòng nguy cơ tắc nghẽn toàn bộ.
Nguy cơ nhồi máu cơ tim ở người hẹp mạch vành 70% không quá cao nếu bệnh nhân không có triệu chứng, có thể kiểm soát tốt các yếu tố nguy cơ. Tuy nhiên, mức độ nguy hiểm không chỉ do độ hẹp quyết định, còn phụ thuộc rất lớn vào độ bền vững của mảng xơ vữa.
Một số trường hợp chỉ hẹp 60-70% nhưng mảng xơ vữa lại thuộc dạng không ổn định, nghĩa là phần lõi chứa nhiều chất béo (lipid) trong khi lớp vỏ bao xơ bên ngoài rất mỏng (TCFA). Cấu trúc này rất lỏng lẻo, dễ bị nứt vỡ khi người bệnh gặp biến cố như xúc động mạnh hoặc huyết áp tăng vọt. Khi mảng xơ vữa nứt vỡ sẽ kích hoạt hình thành cục máu đông gây tắc nghẽn lòng mạch đột ngột, dẫn đến nhồi máu cơ tim cấp.
Để xác định anh có cần đặt stent không, anh nên khám tim mạch chuyên sâu để bác sĩ kiểm tra yếu tố liên quan. Song song, anh cần tuân thủ lối sống khoa học để làm chậm quá trình hẹp mạch vành như chế độ dinh dưỡng ưu tiên rau, củ, quả, ngũ cốc nguyên hạt, giảm thực phẩm giàu chất béo bão hòa và muối. Tập thể dục đều đặn, kiểm soát căng thẳng, không hút thuốc, hạn chế rượu bia; kiểm tra sức khỏe định kỳ.
ThS.BS Phạm Hoàng Trọng Hiếu
Trung tâm Tim mạch Can thiệp
Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP HCM
Độc giả gửi câu hỏi về tim mạch tại đây để bác sĩ giải đáp








