Giữ lửa lò ngói âm dương trăm năm ở Bắc Sơn

3 hours ago 7
Quảng Cáo

0943778078

Từ khoảng 45 hộ, khu vực Long Đống cũ (nay thuộc xã Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn) chỉ còn 30 hộ giữ nghề làm ngói âm dương. Làng nghề vẫn đỏ lửa, sản phẩm có lúc không đủ bán, nhưng người thợ lo thiếu nguyên liệu, thiếu lớp kế nghiệp.

Từ chân đèo Tam Canh rẽ vào thung lũng Bắc Sơn, những dãy ngói mộc xếp ngay ngắn dưới các mái lán dần hiện ra. Bên lò nung sẫm màu khói, người xúc đất, người lọc sạn, người thoăn thoắt đưa từng phần đất dẻo vào khuôn gỗ.

Không gian yên ả của bản làng thỉnh thoảng được đánh thức bởi tiếng những viên ngói chín va vào nhau khô, giòn. Âm thanh ấy đã vang lên ở vùng đất này suốt hơn một thế kỷ, cùng những mái nhà sàn của đồng bào Tày, Nùng đi qua bao mùa mưa, nắng.

Giữ lửa lò ngói âm dương trăm năm ở Bắc Sơn- Ảnh 1.

Lò nung ngói hằng ngày đỏ lửa

ẢNH: MINH ANH

Ngói âm dương, còn gọi là ngói máng, được đặt tên theo cách lợp: một viên ngửa làm "âm", một viên úp làm "dương", đan cài nối tiếp trên mái. Loại ngói đất nung này kín, nhẹ, thoát nước tốt, giúp ngôi nhà mát vào mùa hè và ấm hơn khi đông về.

Người Tày ở Bắc Sơn có câu "Mừng chắc, câu chắc, pài ngọa chắc", nghĩa là "mày biết, tao biết, mái ngói biết". Trong quan niệm của người dân, mái ngói không chỉ che chở cho một căn nhà mà còn lặng lẽ chứng kiến những buồn vui, trưởng thành của các thế hệ sống dưới mái sàn.

Những viên ngói âm dương mới được thành hình

ẢNH: MINH ANH

Người giữ lửa qua 15 ngày đêm

Tại thôn Long Hưng, xưởng ngói rộng hơn 3.000 m2 của gia đình ông Hoàng Công Hưng là một trong những cơ sở còn duy trì sản xuất thường xuyên. Những chồng ngói mộc nối nhau dưới mái lán, phía cuối khu đất là lò nung có sức chứa khoảng 55.000 viên mỗi mẻ.

Ông Hưng, 39 tuổi, là thế hệ tiếp nối nghề từ ông nội. Hiện gia đình thuê khoảng 8 lao động, tính cả người thân, thường xuyên có hơn 10 người làm việc tại xưởng.

"Ngày trước, mỗi xã hoặc mỗi xóm thường có một lò. Người dân giúp nhau làm ngói, dựng nhà sàn, chủ yếu đổi công chứ chưa mua bán như bây giờ", ông Hưng kể.

Giữ lửa lò ngói âm dương trăm năm ở Bắc Sơn- Ảnh 4.

Nghề làm ngói âm dương đã giúp hàng chục lao động tại địa phương có thêm thu nhập

ẢNH: MINH ANH

Đất làm ngói phải là loại đất sét nằm ở vùng trũng, ngâm nước lâu năm, có độ dẻo và khả năng kết dính cao. Đây thường là những khu đất khó canh tác, không phù hợp trồng lúa nên được người dân tận dụng làm nguyên liệu.

Đất đưa về được nhặt bỏ đá, sỏi, rễ cây rồi ủ. Theo kinh nghiệm của người làm nghề, đất càng được ủ lâu càng dẻo, mịn, viên ngói sau khi nung cũng đẹp hơn. Trước kia, nhiều người phải dùng xẻng đảo đất rồi dùng chân dẫm liên tục. Nay máy móc đã thay phần lớn sức người ở công đoạn nặng nhọc này.

Đất làm nhuyễn được lọc lại để loại bỏ sạn nhỏ, sau đó đưa vào khuôn gỗ phẳng và tạo độ cong. Người thợ rắc một lớp tro bếp lên khuôn để chống dính. Những viên ngói mộc được xếp thành từng chồng khoảng 180 viên, chờ khô trước khi chuyển vào lò.

Giữ lửa lò ngói âm dương trăm năm ở Bắc Sơn- Ảnh 5.

Đất làm ngói phải là loại đất sét nằm ở vùng trũng, ngâm nước lâu năm, có độ dẻo và khả năng kết dính cao

ẢNH: MINH ANH

Khâu nung đòi hỏi nhiều kinh nghiệm nhất. Mỗi mẻ kéo dài khoảng 15 ngày đêm, lửa phải được duy trì liên tục. Người coi lò quan sát màu khói, độ đỏ của vách lò và sức nóng để điều chỉnh lượng củi. Lửa yếu khiến ngói không chín; lửa quá mạnh có thể làm sản phẩm nứt, méo hoặc dính vào nhau.

Suốt nửa tháng ấy, những người cùng làm một mẻ phải thay nhau trực. Giấc ngủ, bữa cơm đều theo nhịp lửa. Chỉ khi cửa lò được mở, những viên ngói có màu đất nung đều, gõ vào nhau phát tiếng trong và đanh, người thợ mới có thể thở phào.

Ông Dương Việt Hùng, Trưởng phòng Văn hóa - xã hội xã Bắc Sơn, cho biết trước đây khu vực này có khoảng 45 hộ làm ngói âm dương, nay còn khoảng 30 hộ. Các gia đình thường tự chuẩn bị nguyên liệu, tạo hình và phơi ngói, nhưng khoảng 5 hộ cùng sử dụng một lò để giảm chi phí và hỗ trợ nhau trong khâu nung.

Số hộ giảm nhưng đầu ra không thiếu. Ông Hùng cho biết nhiều thời điểm ngói làm ra không đủ đáp ứng đơn hàng. Sản phẩm đã được đưa đến Điện Biên, Khánh Hòa, Thanh Hóa, Hà Giang, Sơn La và nhiều địa phương khác.

Nếu trước kia ngói chủ yếu dùng để lợp nhà sàn thì nay thị trường đã mở rộng. Nhiều công trình văn hóa, khu nghỉ dưỡng, nhà hàng, quán cà phê lựa chọn ngói âm dương để tạo không gian mang hơi hướng truyền thống. Viên ngói Bắc Sơn vì thế vẫn sống bằng thị trường, chứ không chỉ tồn tại như một sản phẩm trưng bày phục vụ du lịch.

Giữ lửa lò ngói âm dương trăm năm ở Bắc Sơn- Ảnh 6.

Ngói âm dương, còn gọi là ngói máng, có tên từ cách lợp, một viên ngửa làm "âm", một viên úp làm "dương", đan cài nối tiếp trên mái

ẢNH: MINH ANH

Có khách mua nhưng vẫn lo thiếu đất

Nghịch lý của làng nghề là sản phẩm không đủ bán nhưng người làm vẫn khó mở rộng sản xuất. Vướng mắc lớn nhất hiện nay nằm ở nguồn đất nguyên liệu.

Ông Hưng cho biết gia đình đã tìm được một số khu đất có chất lượng phù hợp tại Bắc Sơn và khu vực Bình Gia. Tuy nhiên, việc khai thác, vận chuyển còn liên quan đến các quy định về đất đai, tài nguyên và khoáng sản. Trong khi đó, phần lớn hộ làm ngói có quy mô gia đình, khó đáp ứng những thủ tục như một dự án khai thác mỏ.

"Chúng tôi mong có cơ chế phù hợp đối với nghề truyền thống, vừa bảo đảm quản lý tài nguyên, vừa giúp người dân có nguồn đất hợp pháp, ổn định. Có đầu ra mà không lấy được đất thì cũng không thể tăng sản lượng", ông Hưng nói.

Ông cũng dự định mở rộng khuôn viên, dựng thêm nhà sàn và nơi nghỉ chân để đón khách, nhưng kế hoạch còn vướng thủ tục quy hoạch, chuyển đổi mục đích sử dụng đất và cấp phép xây dựng.

Từ năm 2024, xưởng ngói của gia đình ông Hưng trở thành điểm số 20 trên tuyến tham quan Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Lạng Sơn. Những bức tường ghép bằng ngói, vòm lò cũ và khu phơi sản phẩm trở thành nơi du khách tìm hiểu một nghề thủ công đặc trưng của người Tày.

Giữ lửa lò ngói âm dương trăm năm ở Bắc Sơn- Ảnh 7.

Lò ngói âm dương tại xã Bắc Sơn trở thành một trong những điểm đến bên trong vùng lõi công viên địa chất

ẢNH: MINH ANH

Tại đây, khách có thể trực tiếp đưa đất vào khuôn, thử tạo độ cong cho viên ngói. Nhiều trẻ nhỏ thích thú nghịch đất sét, trong khi khách nước ngoài dành thời gian quan sát từng động tác của người thợ. Vào dịp hè hoặc cuối năm học, các đoàn học sinh thường đến tham quan, trải nghiệm.

Gia đình ông Hưng chỉ thu một khoản phí nhỏ theo đoàn để chuẩn bị nguyên liệu. Nguồn thu chính vẫn đến từ bán ngói; du lịch giúp nhiều người biết đến sản phẩm và câu chuyện văn hóa của làng nghề hơn.

Theo ông Dương Việt Hùng, địa phương đang lồng ghép việc bảo tồn nghề ngói âm dương vào các chương trình phát triển văn hóa, du lịch; từng bước kết nối làng ngói với Bảo tàng Khởi nghĩa Bắc Sơn, làng du lịch cộng đồng Quỳnh Sơn, rừng nghiến cổ thụ, suối Mỏ Mắm và các điểm di sản trong khu vực.

Tuy nhiên, một làng nghề chỉ thực sự sống khi còn người nối nghề. Trong kỳ nghỉ hè, con gái ông Hùng, chuẩn bị vào lớp 10, đã phụ bố mẹ một số công việc và làm quen với cách trông lò.

"Thấy con quan tâm, tôi rất phấn khởi. Đây là nghề ông cha để lại, mình vừa làm kinh tế, vừa có trách nhiệm gìn giữ", ông Hùng nói.

Giữ lửa lò ngói âm dương trăm năm ở Bắc Sơn- Ảnh 8.

Giữa những chồng ngói mộc, cô gái trẻ đang học cách cảm nhận độ dẻo của đất và nhìn màu lửa trong lò. Hình ảnh ấy gợi hy vọng về sự tiếp nối, nhưng cũng cho thấy tương lai làng nghề không thể chỉ đặt lên vai một vài gia đình

ẢNH: MINH ANH

Chiều xuống, khói lại bay lên từ lò ngói giữa thung lũng. Sau hơn một thế kỷ, ngọn lửa vẫn cháy và những viên ngói Bắc Sơn vẫn theo xe đi khắp nơi. Để ngọn lửa ấy không chỉ còn trong ký ức, người thợ cần một nguồn đất ổn định, không gian sản xuất phù hợp và, quan trọng hơn cả là cơ hội để thế hệ trẻ có thể sống được bằng nghề cha ông.

Read Entire Article