Warning: session_start(): open(/home/obslnetp/public_html/src/var/sessions/sess_f8424e42572562c7064039bb3002a8d3, O_RDWR) failed: Disk quota exceeded (122) in /home/obslnetp/public_html/src/bootstrap.php on line 59

Warning: session_start(): Failed to read session data: files (path: /home/obslnetp/public_html/src/var/sessions) in /home/obslnetp/public_html/src/bootstrap.php on line 59
Giữ hệ sinh thái carbon xanh dương - Tin Tức Cập Nhật Nhanh

Giữ hệ sinh thái carbon xanh dương

1 hour ago 4
Quảng Cáo

0943778078

Tại một hội thảo kỹ thuật về giải pháp thiết lập và quản lý hiệu quả các khu bảo tồn biển Việt Nam được tổ chức mới đây, các chuyên gia đã chỉ rõ các khu bảo tồn biển chính là một thiết chế quản trị quan trọng để duy trì chức năng sinh thái, hỗ trợ quản lý nghề cá bền vững và bảo vệ nền tảng tự nhiên cho phát triển dài hạn.

Tạo sinh kế bền vững

Đến nay, Việt Nam đã thành lập 7 khu bảo tồn biển, gồm Bạch Long Vỹ, Cô Tô - Đảo Trần, Lý Sơn, Cồn Cỏ, Hòn Cau, Cà Mau và Phú Quốc. Bên cạnh đó, 5 khu vực biển được quản lý trong vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên là Cát Bà, Bái Tử Long, Núi Chúa, Côn Đảo, Cù Lao Chàm. Tổng diện tích vùng biển được khoanh vùng bảo tồn khoảng 215.191 ha, chiếm khoảng 0,215% diện tích tự nhiên vùng biển quốc gia.

Ngoài ra, 7 khu vực biển đang được các địa phương lập dự án thành lập khu bảo tồn biển theo pháp luật về thủy sản, gồm Vịnh Hạ Long, Bái Tử Long, Cát Bà - Long Châu, Hòn Ngư - Đảo Mắt, vịnh Quy Nhơn, vịnh Nha Trang, Phú Quý.

Dự kiến hết năm 2026, Việt Nam sẽ có 14/27 khu bảo tồn biển được thành lập theo Quy hoạch bảo vệ và khai thác nguồn lợi thủy sản thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050. Việt Nam đặt mục tiêu diện tích các khu bảo tồn biển, ven biển đạt tối thiểu 6% diện tích tự nhiên vùng biển quốc gia vào năm 2030.

Ông Nguyễn Trọng Chánh, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Khánh Hòa, cho hay địa phương sở hữu vị trí chiến lược với nguồn tài nguyên biển phong phú, bao gồm các hệ sinh thái rạn san hô, thảm cỏ biển và các vùng sinh sản tự nhiên của nhiều loài thủy sinh giá trị. Tỉnh đang tập trung thực hiện các nhóm giải pháp trọng tâm, bao gồm: mở rộng mạng lưới bảo tồn tích hợp; phục hồi các rạn san hô và thảm cỏ biển bị suy thoái; kiểm soát chặt chẽ hoạt động khai thác ven bờ và du lịch; hỗ trợ cộng đồng chuyển đổi nghề nghiệp bền vững; đẩy mạnh ứng dụng khoa học - công nghệ trong giám sát.

Một ví dụ khác về sinh kế từ hệ sinh thái carbon xanh dương là cỏ năn tượng (còn gọi là hến biển, tên khoa học là Scirpus littoralis Schrad) - loài thực vật ngập mặn bản địa quen thuộc tại vùng ĐBSCL. Từ nhiều năm trước, người dân địa phương đã biết tận dụng loài cỏ này để sản xuất các sản phẩm thủ công mỹ nghệ xuất khẩu. Tuy nhiên, phải đến khi những mô hình đổi mới sáng tạo xuất hiện, giá trị của loài cỏ hoang dại này mới thực sự được nâng tầm một cách bài bản.

Thành lập từ năm 2021 tại phường Mỹ Quới, TP Cần Thơ, HTX Sinh kế Mỹ Quới đã khai thác và thu mua nguồn nguyên liệu cỏ năn tượng dồi dào ở địa phương và từ tỉnh Cà Mau. Sau 5 năm đi vào hoạt động, trung bình mỗi tháng, HTX cung ứng ra thị trường 10.000-15.000 sản phẩm thủ công mỹ nghệ từ cỏ năn tượng đạt chất lượng cao. Mặt hàng của HTX đã vượt qua các hàng rào kỹ thuật khắt khe để xuất khẩu sang các thị trường khó tính như Mỹ, Úc và một số quốc gia ở châu Âu.

Giữ hệ sinh thái carbon xanh dương - Ảnh 1.

Người dân ở Cà Mau cắt cỏ năn tượng để bán cho HTX làm sản phẩm thủ công mỹ nghệ xuất khẩu.Ảnh: Ca Linh

Kinh nghiệm thương mại hóa của quốc tế

Nhiều quốc gia trên thế giới cũng đã chuyển dịch thành công từ tư duy khai thác tận diệt sang bảo tồn và thương mại hóa giá trị của hệ sinh thái xanh dương.

Tiên phong cho xu hướng này là Kenya với dự án Mikoko Pamoja (nghĩa là "Cùng nhau bảo vệ rừng ngập mặn") tại vùng bờ biển phía Nam. Đây là mô hình đầu tiên trên thế giới kinh doanh thành công tín chỉ carbon từ rừng ngập mặn hoàn toàn do cộng đồng quản lý.

Bằng cách để người dân địa phương trực tiếp tham gia tuần tra, trồng lại các khu vực rừng bị suy thoái, dự án đã tạo ra một vòng tuần hoàn kinh tế bền vững. Doanh thu từ việc bán tín chỉ carbon được chuyển thẳng vào quỹ cộng đồng để xây dựng giếng nước sạch, mua sách vở cho học sinh và nâng cấp trạm y tế.

Khác với mô hình dựa vào cộng đồng của Kenya, Úc lại thể hiện vị thế của một cường quốc carbon xanh dương thông qua sức mạnh thể chế và Đạo luật phục hồi tài chính. Nắm giữ khoảng 12% lượng hệ sinh thái carbon xanh dương toàn cầu, đặc biệt là các thảm cỏ biển khổng lồ tại rặng san hô Great Barrier, Chính phủ Úc đã đầu tư hơn 30 triệu USD để tài trợ cho các dự án khôi phục đầm lầy và cỏ biển.

Theo trang web Bộ Biến đổi Khí hậu, Năng lượng, Môi trường và Nước của Úc, chính sách này cho phép các trang trại nuôi trồng thủy sản hoặc chủ đất ven biển nhận được lợi ích tài chính trực tiếp khi chủ động phục hồi dòng chảy tự nhiên của nước biển, tạo ra một động lực kinh tế mạnh mẽ cho khối tư nhân.

Trong khi đó, Cộng hòa Seychelles lại chọn lối đi đột phá khi biến các cam kết chính trị của Hiệp định Paris thành hành động tài chính mạnh mẽ, hướng tới mục tiêu bảo vệ 100% hệ sinh thái rừng ngập mặn và cỏ biển vào năm 2030. Để hiện thực hóa mục tiêu này, Seychelles đã phát hành "trái phiếu xanh dương" đầu tiên trên thế giới, nhằm huy động vốn từ các nhà đầu tư quốc tế.

Nguồn vốn này được dùng để tài trợ cho việc mở rộng các khu bảo tồn biển và tài trợ cho ngư dân chuyển đổi ngành đánh bắt thủy sản sang hướng bền vững. Nhờ vậy, người dân Seychelles vừa có sinh kế lâu dài, vừa giảm thiểu tối đa các tác động tiêu cực đến thảm cỏ biển nhạy cảm. 

Vai trò của khu bảo tồn biển

Theo ông Nguyễn Quang Hùng, Phó Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư - Bộ Nông nghiệp và Môi trường, hệ sinh thái biển và ven biển không chỉ là nền tảng duy trì đa dạng sinh học mà còn là nơi cư trú, sinh sản của nhiều loài thủy sinh quý hiếm.

Việc bảo tồn các hệ sinh thái này, thông qua phát triển hiệu quả hệ thống khu bảo tồn biển, chính là giải pháp then chốt để bảo vệ các loài, phục hồi nguồn lợi và bảo đảm phát triển kinh tế biển bền vững trong dài hạn.

Đơn cử, loài rùa biển có tỉ lệ tử vong cao ở mức đáng lo ngại, nhất là tại các khu vực trọng điểm như Cù Lao Chàm, Cồn Cỏ, Lý Sơn, Núi Chúa và Côn Đảo. Nguyên nhân chủ yếu là do việc đánh bắt không chủ ý từ các nghề lưới kéo, lưới rê và câu. Bên cạnh đó, rùa biển tiếp tục đối mặt với các áp lực như mất sinh cảnh do phát triển du lịch, ô nhiễm rác thải nhựa và tác động của biến đổi khí hậu.

Vì vậy, sự kết hợp hiệu quả giữa thực thi pháp luật, sự tham gia của cộng đồng và các sáng kiến truyền thông là yếu tố quyết định để tăng cường hiệu quả bảo tồn rùa biển tại Việt Nam.

Giữ hệ sinh thái carbon xanh dương - Ảnh 2.

Read Entire Article