Quảng Cáo
0943778078
Đồng Tháp - Đón hai con đầu lòng ngay khi đài báo tin thắng trận, ông Muôn đặt tên là Việt - Nam, mở đầu cho 6 cái tên ghép lại thành khẩu hiệu "Việt Nam thống nhất quyết tâm".
Dịp 30/4 năm nay, vợ chồng ông Lê Văn Muôn và bà Nguyễn Thị Thêm (cùng 75 tuổi) sẽ cùng con cháu từ miền Nam về quê gốc Thọ Xuân, Thanh Hóa. Chuyến đi được lên kế hoạch từ Tết, là dịp để những đứa cháu thế hệ thứ ba lần đầu đặt chân lên mảnh đất nơi câu chuyện gia đình bắt đầu.
Vợ chồng ông Muôn - bà Thêm và 6 con (lần lượt từ trái qua Nhất, Thống, Tâm, Nam, Việt, Quyết) tại nhà ở Thanh Bình, Đồng Tháp, dịp Tết 2026. Ảnh: Gia đình cung cấp
Những cái tên mang bóng hình lịch sử
Ông Muôn và bà Thêm quen nhau dưới mái trường Trung cấp Nông Lâm Thanh Hóa. Ngày ấy, chàng là lớp trưởng, còn nàng là hoa khôi nhưng học yếu. Từ những lần kèm bài vở mỗi kỳ thi, tình cảm của họ dần lớn lên.
Đám cưới diễn ra năm 1974, ngay sau khi cả hai tốt nghiệp. Đúng ngày 30/4/1975, đôi vợ chồng trẻ đón cặp song sinh. "Giữa niềm vui thống nhất, chúng tôi quyết định đặt tên hai con là Việt và Nam, tượng trưng cho hai miền được liền lại", ông Muôn, khi đó là cán bộ nông nghiệp xã, chia sẻ.
Năm 1978, khi biên giới Tây Nam còn tiếng súng, người con thứ ba ra đời được ông Muôn đặt tên Thống. Năm 1983, người con thứ tư chào đời được đặt tên Nhất, gửi gắm mong ước về đất nước trọn vẹn bình yên. Trước thềm Đổi mới, hai người con út lần lượt ra đời, đặt là Quyết (1985) và Tâm (1988).
"Ngày nhỏ, chúng tôi ngỡ tên mình là khẩu hiệu hô vang trên loa phát thanh xã", anh Lê Văn Nhất, 43 tuổi, nói. "Lớn lên chúng tôi hiểu đó là tình yêu nước của thế hệ trước và cũng là thái độ sống của cha mẹ trong những năm tháng khó khăn".
Cuộc Nam tiến với 5.000 đồng
Những năm 1980, có ngày ông Muôn đi bộ hàng chục cây số lên Yên Nhân, Bát Mọt (huyện Thường Xuân) để mua vài gánh sắn về độn cơm cho đàn con. Ở quê, đến rau bèo hay thân chuối cho lợn cũng hiếm. Cái đói bủa vây từng bữa ăn.
Bước ngoặt vào năm 1986, trong một lần vào thăm chị ruột của bà Thêm ở Thanh Bình (Đồng Tháp), ông Muôn ấn tượng những cánh đồng thẳng cánh cò bay, thời tiết không rét cắt da cắt thịt như ngoài Bắc.
"Cá dưới sông nhiều đến mức không ai buồn bắt, rau muống, điên điển mọc hoang xanh khắp lối. Tôi nghĩ vào đây tha hồ cày cấy, chăn nuôi", ông Muôn nhớ lại.
Ông Muôn - bà Thêm vào năm 1997 khi cưới vợ cho con trai cả. Ảnh: Gia đình cung cấp
Hai vợ chồng quyết định bỏ nghề cán bộ xã, dắt 5 người con lên tàu Bắc - Nam vào năm 1987. Tài sản mang theo chỉ vỏn vẹn 5.000 đồng, vừa đủ tiền vé.
Những ngày đầu, cả nhà tá túc trong căn chòi lá dựng tạm trên sân nhà người chị gái. Ông Muôn đi làm thuê đủ việc. Giá nhân công thời đó thường là 3.000 đồng, nhưng ông Muôn không ngại nhận làm với mức 1.000 - 2.000 đồng. Lúc ngơi việc, ông đi xúc cá mang về hàng bao tải để bà Thêm làm mắm, phơi khô ăn dần quanh năm hoặc đem ra chợ bán.
"Miễn con cái no bụng là tôi không từ việc nặng nhọc nào", ông nói.
Sau gần một năm, cặp vợ chồng mua được mảnh đất, cất nhà. Sang các năm sau họ mua được đất ruộng. Từ một công đất (1.000 m2), đến giữa thập niên 1990, họ mua được 20 công.
"Người ta làm thì thuê A-Z nhưng tôi chỉ thuê cày, còn tự tay cấy hái, làm cỏ, bỏ phân", ông Muôn chia sẻ.
Dù có đất đai, đời sống những năm 90 vẫn trăm bề thiếu thốn. Đất Tháp Mười giàu sản vật nhưng mùa nước nổi là nỗi ám ảnh. Mỗi năm 5-7 bận nước lũ dâng ngập nhà cả mét, gia đình phải kê đồ đạc sát nóc, nước rút lại vật lộn dọn bùn.
Ngoài đồng ông cày cuốc, trong nhà bà Thêm lo từng bữa ăn và đốc thúc việc học. Tài sản đi học của sáu anh em chỉ là vài cuốn tập cất trong túi vải. Quần áo, sách vở đều được truyền từ người lớn xuống người bé.
Anh Nhất kể được thừa kế "chiếc quần xanh huyền thoại" từ ba anh lớn. "Tới lượt tôi, hai bên mông láng bóng, trơn đến mức tôi hay đùa kiến leo lên cũng trượt chân".
Anh Quyết nhớ nhất những tối ôn bài trong nhà tranh nền đất. Muỗi nhiều vô kể, bà Thêm lấy chiếc mùng tuyn cũ trùm kín lên bàn học. Sáu anh em gọi vui đó là "mùng heo", tối đến lại chui tọt vào chen chúc học bài.
"Ba nghiêm khắc nhưng chưa từng đánh. Mẹ hiền nhưng hay mang ca dao, tục ngữ ra dạy, nói câu nào, thấm câu đó", anh Quyết nói.
Trong ký ức của chị Tâm, ngày đó hai anh lớn thường theo bố ra đồng làm ruộng. Anh thứ ba là mọt sách, chỉ vùi đầu vào chữ nghĩa. Hai anh tư và năm chăm sóc em út. Mỗi lần mẹ đi chợ về, có khúc mía là các anh rủ nhau chỉ róc ăn phần mắt mía, chừa lại phần thịt mía cho cô em gái duy nhất.
Từ chiếc "mùng heo", sáu anh em đều học hành giỏi giang nổi tiếng ở địa phương. Chị Tâm kể ngày đầu lên cấp hai, cô chủ nhiệm liền hỏi: "Có phải em của Việt, Nam, Thống, Nhất, Quyết không?".
"Chẳng mấy chốc, thầy cô trong trường đều biết tôi là đứa em út của 5 ông anh học giỏi", chị Tâm kể.
Đại gia đình sum họp tại Cần Thơ dịp 2/9/2022. Ảnh: Gia đình cung cấp
Quả ngọt phương Nam
Gần 40 năm sau chuyến tàu vào Nam, gia đình ông Muôn nay đã có thêm 11 đứa cháu. Sáu người con đều trưởng thành. Anh cả Lê Văn Việt gác ước mơ kiến trúc sư để phụ cha mẹ nuôi các em, nay quản lý trung tâm luyện thi ở Cần Thơ. Con thứ hai Lê Văn Nam là trung tá quân đội; Lê Văn Thống là kỹ sư cầu đường. Lê Văn Nhất làm giảng viên Toán; Lê Văn Quyết hiện là thiếu tá công an, còn cô út Lê Thị Tâm là bác sĩ ngành công an.
Hai mươi công ruộng chắt chiu từ những năm tháng gian khó nay đã làm tròn sứ mệnh. Vợ chồng ông Muôn bán đất, định chia tiền cho các con nhưng không ai nhận, chỉ mong bố mẹ gửi tiết kiệm dưỡng già và đi du lịch.
Hiện sáu người con của ông bà sống rải rác ở Cần Thơ, Vũng Tàu và TP HCM. Ở tuổi 75, hễ con gọi, cháu cần, vợ chồng ông Muôn lại khoác balo lên đường.
Trong những dịp đại gia đình sum họp, ông thường cầm micro hát tình ca, bà ngồi cạnh giành hát cùng chồng những "bài tủ". Bàn bên, 5 nàng dâu, một chàng rể cùng Việt - Nam - Thống - Nhất - Quyết - Tâm đôi khi phá lên cười khi nhắc chuyện thời niên thiếu.
"Thế hệ chúng tôi gửi gắm tình yêu nước vào tên gọi của các con. Nhìn lại mấy 50 năm, gia đình tôi đi lên từ hai bàn tay trắng, cũng giống như đất nước mình đổi thay, no ấm lên từng ngày", ông Lê Văn Muôn nói.






