Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), khoảng 19,5% dân số Việt Nam hiện bị thừa cân, béo phì, tương đương gần 20 triệu người. Tốc độ gia tăng được đánh giá thuộc nhóm nhanh tại Đông Nam Á, tạo thêm áp lực đối với hệ thống y tế và đặt ra những thách thức đối với chất lượng nguồn nhân lực trong tương lai.
Đáng chú ý, béo phì không còn là vấn đề chủ yếu gặp ở người trưởng thành. Trẻ em và thanh thiếu niên đang trở thành nhóm chịu tác động rõ rệt của xu hướng này.
Tỷ lệ trẻ em bị béo phì ngày càng gia tăng.
Số liệu của Viện Dinh dưỡng Quốc gia cho thấy, tỷ lệ thừa cân, béo phì ở trẻ 5 - 19 tuổi tăng hơn gấp đôi trong khoảng một thập kỷ, từ 8,5% năm 2010 lên khoảng 19% năm 2020. Tại khu vực thành thị, đặc biệt ở các đô thị lớn, tỷ lệ này còn cao hơn.
Đằng sau những con số là một thực tế đáng lo: Nhận thức của cộng đồng về béo phì vẫn chưa theo kịp tốc độ gia tăng của bệnh.
Không ít người vẫn xem thừa cân, béo phì đơn thuần là vấn đề ngoại hình, thậm chí cho rằng, trẻ “mập một chút cho dễ thương”. Ở người trưởng thành, tăng cân đôi khi được mặc định là hệ quả khó tránh của tuổi tác, công việc bận rộn hoặc “cơ địa”. Những quan niệm này có thể khiến việc theo dõi, phát hiện và can thiệp bị trì hoãn.
Béo phì là bệnh mạn tính
Tại Việt Nam, các nội dung này đã được các chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực tim mạch và nội tiết chia sẻ tại hội thảo trực tuyến "Cập nhật những điểm mới trong Hội nghị Béo phì châu Âu 2026", do Hội Tim mạch học Việt Nam phối hợp cùng Novo Nordisk tổ chức.
PGS. TS Hoàng Văn Sỹ - Chủ nhiệm Bộ môn Nội, Trường Y, Đại học Y Dược TP. HCM, Trưởng khoa Nội tiết, Bệnh viện Chợ Rẫy cho biết, béo phì là bệnh mạn tính có xu hướng tiến triển theo thời gian. Nếu không được can thiệp sớm và quản lý lâu dài, người bệnh có thể đối mặt với nguy cơ biến chứng lớn.
Các chuyên gia y tế trao đổi về bệnh liên quan đến béo phì.
Đặc biệt, sự tích tụ mỡ nội tạng có thể gây ra những thay đổi bất lợi đối với quá trình chuyển hóa. Tình trạng được các chuyên gia mô tả là “nhiễm độc mỡ” có thể ảnh hưởng đến chức năng của gan, tim, tụy, mạch máu và nhiều cơ quan khác.
Béo phì vì thế trở thành yếu tố thúc đẩy nhiều bệnh đồng mắc, trong đó có đái tháo đường típ 2, gan nhiễm mỡ liên quan rối loạn chuyển hóa, bệnh lý tim mạch và suy tim.
Đáng chú ý, nguy cơ tim mạch có thể gia tăng ngay cả khi người thừa cân, béo phì chưa xuất hiện đầy đủ các bất thường chuyển hóa. PGS. TS. BS Vũ Thị Thanh Huyền, Trưởng khoa Nội tiết – Cơ xương khớp, Bệnh viện Lão khoa T.Ư cho biết, béo phì và bệnh tim mạch có mối liên hệ mật thiết. “Việc kiểm soát béo phì do đó không chỉ nhằm đưa cân nặng về mức phù hợp mà còn là một phần quan trọng trong chiến lược giảm nguy cơ tim mạch và cải thiện tiên lượng lâu dài”, Bác sĩ Huyền nói.
Các dữ liệu mới đang góp phần thay đổi cách tiếp cận đối với căn bệnh này. Thay vì chỉ tập trung vào con số trên cân hoặc chỉ số BMI, mục tiêu điều trị ngày càng hướng tới giảm nguy cơ biến chứng, bảo vệ các cơ quan đích, giảm nguy cơ tim mạch và cải thiện chất lượng sống.
Tuy nhiên, các chuyên gia nhấn mạnh việc điều trị béo phì cần được nhìn nhận trong chiến lược quản lý lâu dài, thay vì chỉ tìm cách giảm cân trong thời gian ngắn. Kiểm soát cân nặng cần đi cùng điều chỉnh lối sống, theo dõi các yếu tố nguy cơ và quản lý những bệnh lý đi kèm.

30 minutes ago
3







