"Thanh kỳ đệ nhất chốn Nam thiên"
Hành trình thăm Hương Tích mà ngày nay ta quen gọi chùa Hương, có thể xem tác phẩm Chùa Hương Tích (1939) của Dương Tự Giáp. Viết tựa cho sách, Đại học sĩ Hoàng Trọng Phu khen "Chùa và động Hương Tích là một nơi danh thắng thứ nhất trong xứ Bắc kỳ". Phong cảnh Hương Sơn gần 90 năm trước hiện dần qua bước chân khách lãm du. Trước hết là thuyền xuôi bến Đục, ghé đền Trình dưới chân núi Ngũ Nhạc thờ sơn thần. Thuyền lại xuôi dòng qua hai dãy núi xanh um, đến nơi bên phải là Hang Bà, bên trái là Đồng Ông. Cảnh sắc hai bên hiện lên nào núi con Voi, núi con Gà, núi Mâm Xôi… Qua cơ man những sơn thủy hữu tình, đò tới bến, du khách lên hang Thiên Trù (chùa Trò) lạc vào cảnh trí đất Phật giữa thiên nhiên, với tâm tưởng như sống lại trong thơ Bùi Dỵ được khắc ở cửa chùa: "Inh ỏi hồi chuông nện/Dịp dàng tiếng mõ khua/Tiên nhạc, đâu thường có/Bồng lai đây, thấy chưa".

Sách Chùa Hương Tích của Dương Tự Giáp
ẢNH: TƯ LIỆU
Năm 1934, thi nhân Nguyễn Nhược Pháp có thi phẩm Chùa Hương ghi lại "Thiên ký sự của một cô bé ngày xưa", có đoạn "Ô! Chùa Trong đây rồi/Động thẳm bóng xanh ngời/Gấm thêu trần thạch nhũ/Ngọc nhuốm hương trầm rơi". Cảnh sắc chùa Trong được thổi vào thơ như thế. Còn thực tế, theo Dương Tự Giáp, trước khi vào chùa Trong, tức chùa Hương Tích, du khách qua những chùa Tiên San, chùa Giải Oan, đền Trấn Song. Mỗi đền chùa lại bao quanh bởi những huyền tích mê hoặc, thoát tục, "Hỏi khánh đá, trống đồng thuở trước/Hỏi Giải Oan rửa được mấy người" (Dương Vân Hồ).
Thế rồi, động Hương Tích hiện ra trước mặt, chùa Trong là đây. Những cây Gạo, cây Tiền, giá áo cà sa… từ nhũ đá bày cả trước mắt. Trong động cơ man "nào là tượng đức Vua cha và Hoàng hậu ngự tận trên cùng; nào là tượng đức Phật ngự chính giữa điện; nào là tượng kim đồng, ngọc nữ chầu ở hai bên... Thế rồi tượng Phả Hiền, tượng Sư Lợi, tượng Bạch tượng, tượng Thanh sư, lại cả những pho tượng to lớn, đồ sộ trông có vẻ linh động như tượng Đại Sỹ, tượng Tôn sư ở bên tay phải, tượng La Hán ở bên tay trái", Dương Tự Giáp miêu tả. Đó cũng là cảm nhận của Thám hoa Vũ Phạm Hàm với cảnh trí thiên nhiên như xếp như đặt: "Lối vào, đã vén mây trông tỏ/Vạn trạng, thiên hình vô số/Vẫn hãy còn giấc ngủ lơ mơ/Xanh như mây, mà đá vẫn trơ trơ/Trên vách phấn, tờ mờ treo giá áo/Này kho tiền, này kho bạc, này buồng tằm, này lẫm gạo/Phật Quan Âm thiên tạo một tòa/Bốn bề như gấm, như hoa/Đố ai lấy nhân công mà dựng được".
Chúa Trịnh Sâm (1742 - 1782) khi tới thăm Hương Tích năm Canh Dần (1770) đã vinh danh là "Nam thiên đệ nhất động" và tức cảnh sinh tình làm bài thơ Chơi động Hương Tích ngợi khen "Cảnh lạ thú màu khôn xiết kể/Thanh kỳ đệ nhất chốn Nam thiên". Từ ấy về sau, danh xưng "đệ nhất động" đã đi vào thơ ca của văn nhân thi sĩ, khi cụ Nghè Dương Vân Trì xưng tụng "Chẳng Bồng Lai, Nhược Thủy cũng thần tiên/Rõ ràng đệ nhất Nam thiên"; Chu Mạnh Trinh thì "Kìa non non nước nước mây mây/Đệ nhất động hỏi là đây có phải?"…

Núi Dục Thúy bên sông Đáy, ảnh chụp nửa đầu thế kỷ 20
ẢNH: TƯ LIỆU
"Thạch bia còn mấy bài thơ"
Núi Dục Thúy, hay núi Non Nước là danh thắng của đất Ninh Bình. Thiên nhiên đã tạo nên cảnh vật trữ tình cho núi, mà theo lời Phan Huy Chú trong Hoàng Việt địa dư chí núi có tên là Thủy Sơn, tên Dục Thúy do Trương Hán Siêu đặt, "đây là nơi non kỳ nước lạ, cảnh trí hết sức đẹp đẽ". Những tao nhân mặc khách nào vua, nào quan (Trương Hán Siêu, Lê Thánh Tông, Minh Mạng) đã quá bộ lên đây, thả hồn vào cảnh trời mây non nước. Và rồi, thơ đề vách đá truyền đời. Thậm chí, Trương Hán Siêu thời Trần làm quan đến chức Thái phó, khi trí sĩ vì mến cảnh Non Nước đã làm nhà trên núi hưởng nhàn, có đôi câu "Trông vời giời nước muôn tầm/Ta tìm bàn đá, ta nhằm câu chơi".
Phạm Sư Mạnh yêu cảnh sắc núi, sáu lần ghé thăm, gợi lên cho người đời cảnh thiên nhiên đẹp hư thực của Non Nước qua lời thơ "Sóng dữ lên rồi xuống/Hai hướng tùy lưng ngao/Cõi tiên liền tháp Phật/Buồm khách lướt Doanh Châu". Vẫn Hoàng Việt địa dư chí cho biết thời Hậu Lê, vua Lê đặt hành cung trên núi, nên đời sau Nguyễn Đình Giốc còn ghi lại "Tháp Lý Trần đâu đám cỏ hoang/Cung Lê dầy hỏi cũng mơ màng" (Tứ dân tạp chí số 10, 10.5.1930). Bản thân vua Lê Thánh Tông mến cảnh vịnh thơ, rằng "Bên sườn Dục Thúy uốn thành ba/Chót vót non cao tuyết ngọc sa/Theo gió muốn tìm ngôi chùa cũ/Bóng mờ đọc lại tấm bia xưa".
Trong cảnh nước chảy mây trôi, bóng thời gian in hằn cả nét chữ khắc trên đá, để cho đời sau lên nơi đây thăm cảnh nhớ người, lại hoài cảm những nỗi niềm: "Thương đời, đá đổ bồ hôi/Thương thu, cúc cũng mất mùi hương xưa/Thạch bia còn mấy bài thơ/Chữ nhàn nhạt mực, rêu lờ mờ xanh" (Thúy sơn hoài cổ, Nguyễn Xuân Khôi, An Nam tạp chí số 15, 1.1.1931). (còn tiếp)

6 hours ago
3






