Warning: session_start(): open(/home/obslnetp/public_html/src/var/sessions/sess_aeea51becd745637a3b181e8a009a657, O_RDWR) failed: Disk quota exceeded (122) in /home/obslnetp/public_html/src/bootstrap.php on line 59

Warning: session_start(): Failed to read session data: files (path: /home/obslnetp/public_html/src/var/sessions) in /home/obslnetp/public_html/src/bootstrap.php on line 59
Du sơn ngoạn thủy: 'Bể rộng ai đào để đắp non' - Tin Tức Cập Nhật Nhanh

Du sơn ngoạn thủy: 'Bể rộng ai đào để đắp non'

2 hours ago 3
Quảng Cáo

0943778078

"Ngọc châu ngậm bên trong"

Núi Hàm Rồng là danh thắng nức tiếng xứ Thanh. Vua Lê Thánh Tông năm Mậu Tuất (1478) tuần du qua đây, tức cảnh đề thơ trên vách đá. Sau này vua Lê Hiến Tông cũng có thơ đề. Vương Duy Trinh làm Tổng đốc xứ Thanh đã quan tâm tôn tạo cảnh sắc Hàm Rồng, nhờ đó mà du khách thập phương đến thăm rất đông.

Hình thế và tên gọi của Hàm Rồng, được Phục Ba Đặng Xuân Viện miêu tả trong bài Đông Sơn hoài cổ (Nam Phong tạp chí số 153, tháng 8.1930): "Thế núi tự núi Bàn A qua xã Dương Xá, theo mé sông mà lại, quanh co như con rồng đến đấy đột lên một ngọn núi rất cao, trên núi có động, trong động khả dung được năm mươi người; xuyên qua động có một cái hang nhỏ, tục gọi là mắt rồng. Tự đấy dời về phía bên hữu đột lên một đỉnh núi gọi là mũi Rồng, tự chỗ đỉnh núi ấy dời xuống độ bảy mươi bước, một sườn núi rẽ làm đôi, nửa trên đưa ra ngoài, nửa dưới thụt vào trong, dòm xuống dưới sông tựa hồ như con rồng há miệng, nên tục gọi là Hàm Rồng".

 'Bể rộng ai đào để đắp non'- Ảnh 1.

Bài Đông Sơn hoài cổ trên Nam Phong tạp chí số 153, tháng 8.1930

ẢNH: TƯ LIỆU

 'Bể rộng ai đào để đắp non'- Ảnh 2.

Bài về cầu Hàm Rồng trên trang nhất tờ Le génie civil số 1404, ngày 8.5.1909

ẢNH: BnF

Khi qua đây, Tri huyện Quảng Xương Hoàng Mậu làm bài thơ ngũ ngôn tả cảnh, trong đó ghi: "Tục truyền núi Long Hạm/Ngọc châu ngậm bên trong/Hình núi dáng như vậy/Nên gọi là Hàm Rồng". Là danh thắng bao đời, nhưng theo lời Phục Ba, núi Hàm Rồng từng suýt bị xóa sổ khi năm 1891, Sở Hỏa xa định bạt núi để bắc cầu sắt qua sông Mã. Tuy nhiên, Toàn quyền Đông Dương đã lệnh cho Công sứ Villié không được thực hiện việc ấy với cớ đây là địa danh có cảnh quan tươi đẹp. Nhờ đó, núi Hàm Rồng vẫn sừng sững, còn cầu bắc qua sông thì dời ra chỗ khác gần đó.

Năm 1931, Hoàng Mai Rĩnh trên đường du lãm, đã nhắc tới Hàm Rồng trong Trung Kỳ du ký với lòng ngưỡng mộ một cảnh đẹp ly kỳ trên đường thiên lý: "Qua ga Nghĩa Trang quãng đàng dài thấy khách nhao nhao cả, thời ra ngóng xem Hàm Rồng. Ồ! Cũng khen thay, tay kiệt tác nên cái cầu treo, khéo cuốn vòng lên mà tựa 2 đầu xuôi đôi mố, để nó treo cái cầu sắt ngang bằng mà đi qua lại vậy. Dưới dòng nước xiết chẩy thấy bóng tháp lô nhô điểm vẽ, thời ra mé cầu bên đây có nhà xây to sở máy xẻ, máy diêm, mạn mố nọ có ga Hàm Rồng liền cạnh". Cây cầu được họ Hoàng nhắc tới chính là chiếc cầu mái vòm như vành trăng khuyết do người Pháp khởi công xây dựng từ năm 1904.

"Chung quanh chỉ một con tầu say"

Ninh Bình và Thanh Hóa là hai tỉnh liền lạc nhau qua đèo Ba Dội, được biết đến với tên đèo Tam Điệp. Con đèo đã làm nên thi hứng cho nữ sĩ Hồ Xuân Hương khi qua đây với bài thất ngôn bát cú Đường luật Đèo Ba Dội, tả cảnh mà như còn ngụ ý khác: "Cửa son đỏ hoét tùm hum nóc/Hòn đá xanh rì lún phún rêu/Lắt lẻo cành thông cơn gió tốc/Đầm đìa lá liễu giọt sương gieo". Sau này, Nguyễn Tuân cùng Đồ Phồn đi chơi bằng xe lửa, khi qua dốc đèo, "tôi và Phồn rủ nhau tới quầy toa hàng cơm uống rượu, mượn chiếc va gông xanh kiểu mới làm thành một nếp trường đình. Mỗi lúc con tầu leo đèo chạy nhanh bị rẽ ngoặt rượu lại chiềng ra khỏi thành cốc" (Tùy bút, Cộng lực xuất bản, 1941). Chưa hết, rượu vào, thi hứng nồng nàn, một bài tứ tuyệt được cha đẻ của Vang bóng một thời tạo sinh: "Đến đây là đỉnh đèo Ba Dội/Cạn chén đưa anh một chén đầy/Trước mắt bây giờ là bỏ cả/Chung quanh chỉ một con tầu say".

 'Bể rộng ai đào để đắp non'- Ảnh 3.

Bên trong lòng cầu Hàm Rồng đầu thế kỷ 20

ẢNH: TƯ LIỆU

Là tỉnh gồm đủ loại địa hình biển, đồng bằng, trung du, Thanh Hóa có nhiều thắng cảnh nổi tiếng. Lam Kinh đất cũ vua Lê được Ngô Thời Sĩ ghi nhận: "Bốn mặt non sông, trời khéo xếp/Muôn năm lăng tẩm, đất thiêng dành". Ở đất Đông Sơn, núi An Hoạch (núi Nhồi) được biết tới từ xưa qua loại đá xanh dùng đục bia, làm khánh. Thời điểm năm 1930, "dân cư chỗ ấy thường lấy đá chế tạo ra đồ dùng, nên nhiều người biết làm thợ đục đá", Phục Ba ghi. Trên ngọn An Hoạch còn đó hòn Vọng Phu gắn với thuyết chờ chồng, trải qua bao đời dãi nắng dầm mưa vẫn kiên gan cùng tuế nguyệt.

Rời núi đến biển, đến với Sầm Sơn nức tiếng, "Bể rộng ai đào để đắp non/Vết chân Độc Cước tới nay còn" là đôi câu thơ của Phán sự Tòa sứ Thanh Hóa Vương Tứ Đại khi nói đến nơi đây. Bãi tắm cùng đền thần Độc Cước gắn với huyền tích xưa níu chân du khách khiến "đến đó ai cũng phải dừng chân nghỉ bước, để mượn cái quang cảnh ấy làm cách tiêu dao, vì chỗ ấy có cái gió bể ở phía đông bắc đưa lại, rất là khinh khoái, rất là êm đềm, lúc ban chiều trèo lên đỉnh núi nhìn chung quanh thời các núi xa gần có bao nhiêu vẻ ly kỳ đều phô bày ở trước mắt cả, trên mặt bể thuyền xuôi lái ngược, nhấp nhô sóng gợn, coi như là một bức tranh thủy mặc treo bên mắt ta", bài Quảng Xương danh thắng (Nam Phong tạp chí số 157, tháng 12.1930) ghi. (còn tiếp)

Read Entire Article