Đơn giản thủ tục cấp mã số vùng trồng

4 hours ago 8
Quảng Cáo

0943778078

Nghị quyết 36/2026/NQ-CP quy định đơn giản hóa thủ tục hành chính về mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói sẽ giúp tháo gỡ những nút thắt hiện nay với nhiều loại nông sản, nhưng vẫn còn nhiều ý kiến xung quanh vấn đề này.

Chính sách mới đã thông thoáng hơn

Mã số vùng trồng (MSVT) và mã số cơ sở đóng gói (MSĐG) là điều kiện quan trọng để nông sản VN đáp ứng yêu cầu truy xuất nguồn gốc và kiểm dịch của nhiều thị trường nhập khẩu.

Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ NN-MT) cho biết tính từ khi triển khai Nghị định 38/2026/NĐ-CP đến ngày 15.7, cả nước đã cấp 481 MSVT và 349 MSĐG phục vụ xuất khẩu các mặt hàng như bưởi, xoài, mít, thanh long, chuối, dừa, sầu riêng... tới các thị trường Trung Quốc, Mỹ, Hàn Quốc, EU, New Zealand và nhiều nước khác.

Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu triển khai, cơ chế quản lý MSVT còn bộc lộ không ít bất cập. Nhiều ý kiến cho rằng thủ tục cấp mã số MSVT còn phức tạp, thời gian xử lý kéo dài và quy trình thực hiện chưa thống nhất giữa các địa phương. Nhiều vùng sản xuất đủ điều kiện nhưng mất nhiều tháng mới hoàn tất hồ sơ, làm chậm cơ hội xuất khẩu. Bên cạnh đó, việc cấp MSVT chủ yếu dựa trên quy trình hành chính, trong khi chưa tạo được cơ chế khuyến khích phát triển chuỗi liên kết sản xuất. Nhiều nông hộ và hợp tác xã gặp khó khăn trong việc tiếp cận thông tin, hoàn thiện hồ sơ và duy trì các điều kiện kỹ thuật.

Đơn giản thủ tục cấp mã số vùng trồng - Ảnh 1.

Chính sách cấp mã số vùng trồng cần linh động hơn để phù hợp với từng vùng sản xuất

Ảnh: ĐNT

Sau một thời gian triển khai góp ý, Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP quy định đơn giản hóa thủ tục hành chính về MSVT, MSĐG, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 31.7 đến khi Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 38/2026/NĐ-CP 24.1.2026 của Chính phủ có hiệu lực thi hành.

Theo quy định mới, đối với tổ chức, cá nhân không đăng ký xuất khẩu đến các thị trường có yêu cầu về mã số, chủ tịch UBND cấp xã phải thông báo cấp MSVT hoặc MSĐG trong thời hạn không quá 3 ngày làm việc kể từ khi nhận đủ hồ sơ. Nếu không cấp, cơ quan có thẩm quyền phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Đối với trường hợp đăng ký xuất khẩu sang thị trường có yêu cầu về mã số, thời hạn giải quyết là không quá 10 ngày làm việc.

Bên cạnh việc rút ngắn thời gian xử lý, Nghị quyết 36 cũng thay đổi cách thực hiện thủ tục theo hướng đơn giản hơn. Thay vì thực hiện qua nhiều đầu mối, tổ chức, cá nhân nộp hồ sơ đề nghị cấp mã số trực tiếp đến UBND cấp xã nơi có vùng trồng hoặc cơ sở đóng gói thông qua Cổng Dịch vụ công quốc gia. Trường hợp hệ thống gặp sự cố hoặc người dân không thể nộp hồ sơ điện tử, địa phương vẫn tiếp nhận hồ sơ giấy và cập nhật lên hệ thống khi cổng dịch vụ công hoạt động trở lại.

Trả lời Thanh Niên ngày 2.8, đại diện một một doanh nghiệp (DN) lớn chuyên xuất khẩu rau quả tại TP.HCM nhận xét: Cơ chế mới chuyển từ "xin-cho" sang tự do đăng ký nhưng kiểm tra nghiêm sau khi cấp. Điều đó có nghĩa là DN làm đúng sẽ được hưởng lợi vì tiết kiệm thời gian còn DN nào làm gian dối sẽ có rủi ro cao hơn vì cơ quan quản lý tập trung vào hậu kiểm và dữ liệu được quản lý tập trung, dễ truy xuất vi phạm.

Đơn giản thủ tục cấp mã số vùng trồng - Ảnh 2.

Nhưng còn nhiều vấn đề phải giải quyết

Ông Nguyễn Văn Mười, Phó tổng thư ký Hiệp hội Rau quả VN, nhận xét điều quan trọng là quy định phải bảo đảm khả năng thực hiện trên thực tế. Theo ông Mười, đối với hồ sơ cấp MSVT phục vụ xuất khẩu, quy trình xử lý không chỉ dừng ở cấp tỉnh mà còn phải chuyển lên cơ quan trung ương, sau đó trao đổi với cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu để xác nhận hoặc lấy ý kiến. Đây là quá trình phụ thuộc vào nhiều đầu mối nên mốc thời gian 10 ngày cần được tính toán kỹ.

"Nếu quy định thời gian quá ngắn nhưng thực tế vẫn phải kéo dài do chờ phản hồi từ phía nước nhập khẩu thì sẽ rất khó thực hiện. Trong trường hợp chưa giải quyết được đúng hạn, cơ quan quản lý cần thông báo rõ nguyên nhân để DN chủ động kế hoạch sản xuất, xuất khẩu", ông Nguyễn Văn Mười nhận định.

Một nội dung khác được chuyên gia nông nghiệp này đặc biệt quan tâm là quy định đối với vùng trồng xen canh. Tại khu vực Tây nguyên, mô hình xen canh giữa cà phê và sầu riêng hoặc giữa nhiều loại cây lâu năm là phương thức sản xuất phổ biến. Trong khi đó, một số thị trường nhập khẩu chỉ chấp nhận vùng trồng chuyên canh, khiến nhiều vùng sản xuất gặp khó khăn trong việc đăng ký MSVT. Để tháo gỡ vấn đề này, ông Mười đề xuất VN cần chủ động xây dựng cơ sở khoa học đánh giá tác động của mô hình xen canh đối với sinh trưởng cây trồng, chất lượng sản phẩm và yêu cầu kiểm dịch. "Nếu có đủ căn cứ khoa học chứng minh việc xen canh không ảnh hưởng đến chất lượng nông sản thì chúng ta có cơ sở để đàm phán với nước nhập khẩu, thay vì chỉ chấp nhận các điều kiện hiện hành", ông nói.

Ở góc độ khác, ông Cao Bá Đăng Khoa, Tổng thư ký Hiệp hội Dừa VN - đồng thời là Phó tổng thư ký Hiệp hội DN nhỏ và vừa VN, cho rằng chủ trương đơn giản hóa thủ tục là cần thiết nhưng không nên áp dụng theo một mô hình chung cả nước cho tất cả các địa phương. Bởi điều kiện sản xuất giữa các vùng của VN rất khác nhau. Tại nhiều tỉnh miền núi phía bắc, vùng trồng nhỏ, phân tán nên việc mở rộng đối tượng tham gia sẽ góp phần thu hút DN đầu tư và tạo thêm đầu ra cho nông sản. Trong khi đó, ĐBSCL lại có các vùng nguyên liệu quy mô lớn phục vụ xuất khẩu. Nếu mở rộng quá nhanh mà thiếu cơ chế sàng lọc năng lực DN, nguy cơ xuất hiện các DN đăng ký MSVT nhưng không đủ khả năng xây dựng thị trường tiêu thụ là điều có thể xảy ra.

Ông Khoa nói thực tế từng có trường hợp DN được cấp MSVT, nhưng sau đó không có khách hàng xuất khẩu hoặc ngừng hoạt động. Khi đó, vùng nguyên liệu bị bỏ ngỏ, còn người nông dân gặp khó khăn vì không thể tự tìm kiếm thị trường. Từ thực tế này, ông Cao Bá Đăng Khoa kiến nghị các địa phương, đặc biệt là khu vực ĐBSCL, nên nghiên cứu giao hợp tác xã làm đầu mối quản lý MSVT và MSĐG. Khi đó, DN chỉ cần ký hợp đồng thu mua với hợp tác xã thay vì trực tiếp sở hữu vùng nguyên liệu. Nếu một DN rút lui, hợp tác xã vẫn giữ được mã số và có thể tiếp tục hợp tác với DN khác, qua đó bảo đảm sự ổn định của chuỗi cung ứng và hạn chế rủi ro cho người nông dân. 

Nghị quyết cũng làm rõ MSVT chỉ được cấp cho một loại cây trồng xác định theo vị trí của một hoặc nhiều thửa đất và không xác lập, không thay thế quyền sử dụng đất của tổ chức, cá nhân. Đồng thời, khuyến khích các tổ chức, cá nhân, hợp tác xã, tổ hợp tác liên kết sản xuất để hình thành vùng nguyên liệu tập trung, quy mô lớn nhằm được cấp MSVT.

Read Entire Article