Quảng Cáo
0943778078
Bộ Tư pháp đề xuất bỏ mô hình tổ hòa giải ở cơ sở thay bằng các Trung tâm hòa giải cộng đồng và hòa giải viên phải tốt nghiệp đại học và có chứng chỉ nghề nghiệp.
Đây là nội dung tại hồ sơ thẩm định dự án Luật Hòa giải ở cơ sở sửa đổi vừa được Bộ Tư pháp công bố. Một trong những chính sách lớn của dự án Luật là hoàn thiện cơ chế lựa chọn và nâng cao chất lượng hòa giải viên ở cơ sở đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
Theo Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013, mỗi tổ hòa giải có từ 3 hòa giải viên trở lên. Chủ tịch UBND cấp xã quyết định số lượng tổ hòa giải, hòa giải viên trong một tổ căn cứ vào đặc điểm, tình hình địa phương.
Theo quy định hiện hành, tiêu chuẩn hòa giải viên là công dân Việt Nam thường trú tại cơ sở, có phẩm chất đạo đức tốt, uy tín trong cộng đồng, khả năng thuyết phục, vận động và hiểu biết pháp luật.
Tại dự án Luật mới, Bộ Tư pháp đề xuất bỏ mô hình tổ hòa giải, thành lập các Trung tâm hòa giải cộng đồng tại cấp xã. Hòa giải viên phải có bằng tốt nghiệp đại học, có chứng chỉ nghề nghiệp và được chính quyền cấp xã tuyển dụng.
Bộ cho biết việc lựa chọn hòa giải viên gắn với trình độ học vấn, bằng cấp và đánh giá năng lực phù hợp với đặc thù địa bàn và từng loại vụ việc. Chính sách này học tập theo mô hình hòa giải của Singapore và Australia. Giải pháp nhằm chuyên nghiệp hoạt động hòa giải ở cơ sở, xử lý ngay tại cơ sở những tranh chấp, bất đồng trên cơ sở pháp luật, bảo đảm tối cao tinh thần thượng tôn Hiến pháp và pháp luật.
Dự án Luật cũng nêu rõ hòa giải viên có trách nhiệm giải trình đối với chất lượng vụ việc hòa giải. Cơ chế đánh giá định kỳ hòa giải viên được thiết lập trên cơ sở kết quả hòa giải, mức độ tín nhiệm của cộng đồng và việc chấp hành quy định pháp luật, qua đó tạo động lực nâng cao chất lượng hoạt động hòa giải.
Nguồn: Bộ Tư pháp
Về cơ chế hỗ trợ tài chính, ngân sách nhà nước bảo đảm hoạt động của Trung tâm hòa giải ở cộng đồng, bao gồm cơ sở vật chất và chi phí bộ máy hoạt động.
Hòa giải ở cơ sở là cơ chế giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp nhỏ ngay trong cộng đồng dân cư thông qua sự tham gia của những người có uy tín như tổ trưởng dân phố, trưởng thôn, hội phụ nữ, cựu chiến binh hoặc các hòa giải viên được địa phương công nhận.
Luật Hòa giải ở cơ sở hiện hành hiệu lực từ năm 2014. Từ tháng 01/2014 đến tháng 12/2025, cả nước tiếp nhận 906.763 vụ, việc hòa giải, trung bình 90.676 vụ, việc/năm. Trong đó, vụ hòa giải thành công là 735.785/906.763 vụ, đạt tỷ lệ 80,22%. Một số tỉnh có tỷ lệ hòa giải thành cao như Lào Cai (88,46%); Tây Ninh (88,32%); Tuyên Quang (87,27%); Đồng Tháp (85,84%); Lai Châu (85,80%); TP HCM (85,24%); An Giang (85,17%); Quảng Ngãi (84,96%).
Thông qua công tác hòa giải ở cơ sở, những tranh chấp, bất đồng phát sinh được giải quyết kịp thời, hạn chế đáng kể tình trạng khiếu kiện ra cơ quan nhà nước, khiếu kiện vượt cấp. Công tác hòa giải ở cơ sở cũng góp phần quan trọng giữ gìn, vun đắp tình làng, nghĩa xóm, xây dựng cộng đồng dân cư yên bình, hạnh phúc.
Bộ Tư pháp cho biết hầu hết mâu thuẫn, tranh chấp được hòa giải chủ yếu phát sinh trong các lĩnh vực đất đai, dân sự; hôn nhân và gia đình. Một số vụ việc phát sinh mâu thuẫn giữa các bên do khác nhau về quan niệm sống, lối sống, mâu thuẫn trong việc sử dụng lối đi qua nhà, lối đi chung, sử dụng điện, nước sinh hoạt...
Nguồn: Bộ Tư pháp
Tuy nhiên, qua hơn 10 năm thi hành, Luật xuất hiện một số quy định không còn phù hợp. Hiện nay, hòa giải viên nhận được thù lao hòa giải theo vụ việc 300.000-400.000 đồng, chỉ mang tính chất động viên.
Thực tế cho thấy những vụ việc tranh chấp phức tạp, đông người, hòa giải viên ở cơ sở chưa hòa giải được nhiều, do năng lực không đáp ứng, kiến thức pháp luật còn hạn chế. Đặc biệt, đối với các vụ tranh chấp đất đai, nguồn gốc, chính sách đất đai khá phức tạp, một số vụ thiếu cơ sở pháp lý để giải quyết.
Quy định về quyền, nghĩa vụ của hòa giải viên chưa bao quát toàn diện. Điều này khiến cho hòa giải viên còn e ngại, thiếu chủ động trong việc huy động các nguồn lực tư vấn chuyên môn hoặc mời người có uy tín phối hợp giải quyết các vụ việc phức tạp.
Ngoài ra, việc thiếu cơ chế gắn kết trách nhiệm cung cấp thông tin cho cơ quan Tòa án đã tạo ra điểm nghẽn trong quy trình công nhận kết quả hòa giải thành, làm giảm hiệu lực thi hành của các biên bản hòa giải và ảnh hưởng đến quyền lợi chính đáng của các bên tranh chấp.
Sơn Hà








