Nếu YHCT chỉ được xem như một vài kỹ thuật hỗ trợ hoặc một kho kinh nghiệm rời rạc, sẽ rất khó có cơ chế phát triển tương xứng. Nhưng nếu được nhận diện đúng là một ngành y học có hệ thống lý luận, phương pháp thực hành, dược liệu, dưỡng sinh, văn hóa và đạo đức nghề nghiệp riêng, YHCT Việt Nam có thể trở thành một nguồn lực lớn cho chăm sóc sức khỏe nhân dân trong thời kỳ mới.
Muốn đưa YHCT thực sự về với cộng đồng, trước hết phải trả lời một câu hỏi căn bản: chúng ta đang nhìn nhận YHCT như thế nào?
Nếu chỉ xem YHCT là vài bài thuốc dân gian, một số kỹ thuật châm cứu, xoa bóp, bấm huyệt hoặc một chuyên ngành phụ trợ trong hệ thống khám chữa bệnh, thì rất khó tạo ra đột phá. Nhưng nếu nhìn đúng bản chất, YHCT Việt Nam là một ngành y học hoàn chỉnh, có lý luận, có thực hành, có dược liệu, có phương pháp chẩn đoán, điều trị, phòng bệnh, dưỡng sinh, đào tạo, nghiên cứu, văn hóa, đạo đức nghề nghiệp và hệ giá trị riêng.
Công nhận đúng đặc thù của YHCT vì vậy không phải là câu chuyện danh xưng. Đó là vấn đề thể chế.
Nếu nhận thức đúng thì chính sách sẽ đúng. Nếu chính sách đúng thì quản trị đúng. Nếu quản trị đúng thì nguồn lực được giải phóng. Ngược lại, nếu nhận thức sai, YHCT có thể bị quản lý bằng những tiêu chuẩn không phù hợp, dẫn tới kìm hãm phát triển, làm nghèo di sản và khiến người dân không được hưởng đầy đủ lợi ích từ kho tàng tri thức của dân tộc.
YHCT có đặc thù rất khác với y học dựa trên hóa dược đơn chất. Một bài thuốc cổ truyền không đơn thuần là phép cộng cơ học của từng vị thuốc. Nói cách khác, hiệu quả của một bài thuốc nhiều khi nằm ở tính hệ thống. Các vị thuốc khi phối ngũ gia nhiệt đã tương tác đã tạo ra một phức hệ mới để tăng hiệu lực, giảm độc tính, dẫn thuốc vào kinh lạc, điều chỉnh thiên lệch và phục hồi cân bằng. Nếu chỉ tách từng hoạt chất đơn lẻ để đánh giá, có thể không thấy hết giá trị của bài thuốc và phức hệ tạo ra. Nếu chỉ yêu cầu chứng minh theo mô hình của thuốc hóa dược, nhiều kinh nghiệm quý sẽ không thể bước qua cánh cửa quản lý hiện đại, dù đã có lịch sử sử dụng lâu dài và hiệu quả thực tiễn.
Điều này không có nghĩa là YHCT được đứng ngoài khoa học. Ngược lại, càng đặc thù thì càng cần khoa học phù hợp. Khoa học đối với YHCT không nhất thiết chỉ là đi tìm một phân tử duy nhất, mà còn là chuẩn hóa dược liệu, nghiên cứu hợp chất, kiểm nghiệm an toàn, độc tính, kim loại nặng, vi sinh, tồn dư hóa chất, chuẩn hóa quy trình bào chế, theo dõi phản ứng bất lợi, đánh giá hiệu quả lâm sàng, thu thập dữ liệu đời thực, nghiên cứu cải thiện triệu chứng, chất lượng sống, khả năng phục hồi và chi phí điều trị.
YHCT cần khoa học, nhưng phải là khoa học hiểu đúng đối tượng của mình. Quản lý YHCT cần chặt chẽ, nhưng phải là quản lý đúng bản chất. Đặc thù hóa không phải là buông lỏng. Đặc thù hóa là quản lý thông minh hơn, thực tế hơn, nhân văn hơn và hiệu quả hơn.
Hiện nay, YHCT đang đối mặt nhiều nghịch lý như thiếu nguồn dược liệu đạt chuẩn, cơ chế bảo mật bài thuốc gia truyền chưa hoàn thiện, chính sách hỗ trợ nhà thuốc lâu đời còn hạn chế và thiếu tiêu chuẩn liên ngành cho du lịch sức khỏe. Bên cạnh đó, quy định về thuốc, thực phẩm bảo vệ sức khỏe, mỹ phẩm thảo dược hay dịch vụ chăm sóc sức khỏe vẫn chưa được phân định rõ ràng. Những vướng mắc này đòi hỏi tư duy thể chế mới, coi YHCT là lĩnh vực đặc thù, liên ngành và gắn với văn hóa dân tộc.
Trước hết, cần xác lập rõ vị trí của YHCT trong hệ thống y tế quốc gia. YHCT không phải là phần phụ của y học hiện đại, càng không phải là một loại dịch vụ ngoài lề. Đó là một cấu phần quan trọng của nền y tế Việt Nam, đặc biệt trong chăm sóc sức khỏe ban đầu, phòng bệnh, điều trị bệnh mạn tính, phục hồi chức năng, dưỡng sinh, chăm sóc người cao tuổi, sức khỏe tinh thần và nâng cao chất lượng sống.
Thứ hai, cần có đầu mối quản trị đủ mạnh cho YHCT. Một ngành có lịch sử hàng nghìn năm, liên quan đến sức khỏe nhân dân, dược liệu, văn hóa, du lịch, sinh kế nông thôn, tri thức bản địa và sức mạnh mềm quốc gia không thể chỉ được quản lý như một mảng kỹ thuật nhỏ. Cần một thiết chế đủ thẩm quyền để tham mưu chính sách, xây dựng luật, điều phối liên ngành, phát triển dữ liệu, tiêu chuẩn, đào tạo, nghiên cứu và hội nhập quốc tế.
Thứ ba, cần xây dựng hệ thống tiêu chuẩn phù hợp với đặc thù YHCT gồm tiêu chuẩn về: dược liệu, bào chế, bài thuốc, hành nghề, cơ sở khám chữa bệnh, dịch vụ chăm sóc sức khỏe, du lịch chữa lành và truyền thông.
Thứ tư, cần xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về YHCT Việt Nam như là kho dữ liệu về cây thuốc, bài thuốc, danh y, nhà thuốc gia truyền, làng nghề dược liệu, kinh nghiệm 54 dân tộc, vùng trồng, nghiên cứu lâm sàng, sản phẩm, dịch vụ, phản ứng bất lợi, mô hình điều trị hiệu quả và di sản văn hóa y học. Nếu không số hóa tri thức YHCT, chúng ta có thể mất dần tri thức quý ngay trong khi vẫn tự hào về nó.
Thứ năm, rất hệ trọng, đó là cần có cơ chế bảo hộ bài thuốc gia truyền và tri thức bản địa. Nhiều bài thuốc quý nằm trong các gia đình, dòng họ, cộng đồng dân tộc và nhà thuốc lâu đời. Nếu buộc công khai hoàn toàn công thức, chủ thể tri thức có thể mất bí quyết. Nếu không công khai, lại khó được thừa nhận. Do đó, cần có cơ chế lưu chiểu kín, thẩm định an toàn - hiệu quả theo quy trình phù hợp, bảo mật công thức, xác lập quyền sở hữu, chia sẻ lợi ích và bảo vệ tri thức khỏi bị chiếm dụng.
Thứ sáu, cần thiết kế cơ chế “chuẩn hóa theo lộ trình” đối với dược liệu tự nhiên, dược liệu dân gian và kinh nghiệm bản địa. Không thể vì thiếu giấy tờ mà loại bỏ ngay những cây thuốc đã được cộng đồng sử dụng lâu đời. Nhưng cũng không thể để thị trường hỗn loạn, không truy xuất, không kiểm nghiệm. Giải pháp là phân tầng quản lý: danh mục dược liệu dân gian theo vùng, cơ chế truy xuất phù hợp giai đoạn đầu, kiểm nghiệm an toàn bắt buộc với sản phẩm thương mại, từng bước xây dựng vùng trồng, chứng từ, tiêu chuẩn và chuỗi giá trị hoàn chỉnh.
Thứ bảy, cần đào tạo lại đội ngũ YHCT theo tinh thần tích hợp. Người thầy thuốc YHCT thế hệ mới phải vững cổ học, hiểu hiện đại, biết dùng công nghệ, nghiên cứu, bảo vệ an toàn người bệnh và hợp tác với y học hiện đại. Không thể phát triển YHCT trong thế kỷ XXI bằng tư duy khép kín. Nhưng cũng không thể hiện đại hóa bằng cách làm mất gốc.
Nói một cách ngắn gọn, YHCT Việt Nam phải đi bằng hai chân: khoa học và văn hóa di sản. “Chân” khoa học giúp YHCT an toàn hơn, minh bạch hơn, có dữ liệu hơn, có khả năng hội nhập hơn và được xã hội hiện đại tin cậy hơn. “Chân” văn hóa di sản giúp YHCT không bị rút gọn thành sản phẩm thương mại vô hồn; giữ được đạo thầy thuốc, bản sắc Việt, tri thức dân gian, kinh nghiệm 54 dân tộc, thuốc Nam, lối sống thuận tự nhiên và tinh thần nhân ái.
Chỉ khi hai “chân” cùng vững, YHCT Việt Nam mới có thể bước vào thời đại mới một cách đàng hoàng, tự tin và sáng tạo.
Chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Đưa YHCT về với cộng đồng vì vậy cần được hiểu sâu hơn là đưa cả một nền y học trở lại vị trí xứng đáng trong đời sống quốc gia. Không chỉ là đưa vài kỹ thuật xuống cơ sở. Không chỉ là trồng thêm vài vườn thuốc. Không chỉ là mở thêm vài lớp dưỡng sinh. Mà là xây dựng một nền YHCT Việt Nam có thể chăm sóc nhân dân từ gia đình đến bệnh viện, từ phòng bệnh đến phục hồi, từ dược liệu đến du lịch sức khỏe, từ tri thức bản địa đến công nghệ hiện đại.
Khi công nhận đúng đặc thù, chúng ta sẽ không còn đặt YHCT vào thế phải chứng minh mình bằng chiếc áo không vừa. Thay vào đó, chúng ta trao cho YHCT một khung phát triển phù hợp: có chuẩn, có luật, có dữ liệu, có nghiên cứu, có bảo hộ, có thị trường, có văn hóa và có trách nhiệm với cộng đồng.
Đó là mấu chốt để YHCT Việt Nam không chỉ được bảo tồn, mà được phục hưng. Và khi YHCT được phục hưng đúng cách, người được hưởng lợi trước hết chính là nhân dân.

1 hour ago
1







