Xây dựng những "người khổng lồ" hàng hải
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành T.Ư Đảng khóa XIV về xây dựng và phát triển VN trở thành quốc gia biển mạnh (Nghị quyết 20-NQ/TW) đề ra 9 nhóm nhiệm vụ, giải pháp lớn, trong đó có huy động, phát huy và sử dụng hiệu quả các nguồn lực; phát triển mạnh doanh nghiệp biển, nhất là các tập đoàn, tổng công ty quy mô lớn. Trước đó, tại buổi làm việc với các cơ quan về phát triển công nghiệp hàng hải quốc gia ngày 14.7 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh phải đặt công nghiệp hàng hải quốc gia đúng vị trí trong chiến lược xây dựng VN trở thành quốc gia biển mạnh.
Ông Phạm Quốc Long, Chủ tịch Hiệp hội Đại lý, dịch vụ hàng hải (VISABA), bày tỏ vô cùng tâm đắc với bước chuyển chuyển tư duy căn bản nhất của Nghị quyết 20-NQ/TW: chuyển từ "phát triển kinh tế biển" sang "xây dựng quốc gia biển mạnh". Trong đó, kinh tế hàng hải được xác định là trụ cột quan trọng, tạo tiền đề để VN vươn lên trở thành cường quốc hàng hải. Đây là lần đầu tiên mục tiêu quốc gia hàng hải được đặt ra ở tầm Nghị quyết T.Ư - một thông điệp rất mạnh mẽ đối với cộng đồng doanh nghiệp trong ngành.

Xây dựng và phát triển VN trở thành quốc gia biển mạnh là chiến lược lâu dài
Ảnh: TTXVN
Theo ông Phạm Quốc Long, việc đặt đúng vị trí của kinh tế hàng hải là vô cùng quan trọng, bởi khoảng 90% thương mại toàn cầu được vận chuyển bằng đường biển. VN là nền kinh tế có độ mở thuộc nhóm cao nhất khu vực, với vùng biển rộng hơn 1 triệu km2, bờ biển dài hơn 3.260 km, nằm ngay cạnh các tuyến hàng hải quốc tế nhộn nhịp bậc nhất thế giới. Với một quốc gia như vậy, hàng hải không đơn thuần là một ngành dịch vụ, mà là hạ tầng chiến lược của toàn bộ chuỗi sản xuất - xuất nhập khẩu, quyết định trực tiếp chi phí và năng lực cạnh tranh của hàng hóa VN.
Đặc biệt, chủ trương ưu tiên xây dựng và phát triển các tập đoàn kinh tế biển mạnh, có năng lực cạnh tranh quốc tế và đóng vai trò dẫn dắt chuỗi cung ứng là rất đúng đắn và cấp thiết. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy không có quốc gia biển mạnh nào thiếu vắng các doanh nghiệp hàng hải tầm khu vực và toàn cầu đóng vai trò dẫn dắt. Singapore, Hàn Quốc, Đan Mạch hay Trung Quốc đều như vậy. Chỉ những doanh nghiệp đủ quy mô mới gánh được các dự án hạ tầng vốn hàng tỉ USD với chu kỳ hoàn vốn dài hạn, và mới có đủ tiếng nói để tham gia định hình chuỗi cung ứng toàn cầu thay vì chỉ làm một mắt xích gia công.
Điểm mới thực chất của nghị quyết là các cơ chế đi kèm: Nhà nước đặt hàng, giao nhiệm vụ cho doanh nghiệp trong nước đủ năng lực; chia sẻ rủi ro thực chất giữa nhà nước và doanh nghiệp và quan trọng là không phân biệt doanh nghiệp nhà nước hay tư nhân. Điều này sẽ khơi thông nguồn lực rất lớn từ khu vực kinh tế tư nhân.
Nghị quyết Hội nghị T.Ư 3 về xây dựng và phát triển VN trở thành quốc gia biển mạnh đề ra 9 nhóm nhiệm vụ, giải pháp lớn. Trong đó có huy động, phát huy và sử dụng hiệu quả các nguồn lực; phát triển mạnh doanh nghiệp biển, nhất là các tập đoàn, tổng công ty quy mô lớn; phát triển đồng bộ hạ tầng, mở rộng không gian phát triển quốc gia, hình thành các trung tâm kinh tế biển mạnh của quốc gia và khu vực.
Các nhiệm vụ trọng tâm gồm hoàn thiện thể chế, đổi mới quy hoạch không gian biển; phát triển khoa học công nghệ, chuyển đổi số và nhân lực chất lượng cao; thúc đẩy các ngành kinh tế biển hiện đại, xanh, thông minh; xây dựng đồng bộ hạ tầng; bảo tồn hệ sinh thái và nâng cao đời sống người dân vùng biển.
Nghị quyết cũng đặt ra nhiệm vụ phát huy văn hóa biển; bảo đảm quốc phòng, an ninh, an toàn trên biển, đảo; tăng cường hội nhập, hợp tác quốc tế và nâng cao vị thế quốc gia.
Ông Phạm Quốc Long chỉ rõ điều kiện không thể thiếu để hình thành các tập đoàn kinh tế biển mạnh là nguồn vốn dài hạn. Chủ trương của T.Ư vì vậy rất đồng nhịp với việc Trung tâm Tài chính quốc tế VN tại TP.HCM (VIFC-HCMC) chính thức ra mắt đầu năm 2026 với tài trợ thương mại, tài chính chuỗi cung ứng là một trong những trụ cột và Trung tâm Tài chính hàng hải đang từng bước hình thành.
Giai đoạn 2026 - 2035, VN cần khoảng 1.500 - 1.600 tỉ USD vốn đầu tư toàn xã hội trong khi ngân sách nhà nước chỉ đáp ứng khoảng 20%. Với ngành hàng hải - nơi mỗi dự án cảng biển, đội tàu hay chuyển đổi xanh đều có quy mô từ hàng trăm triệu đến hàng tỉ USD - thì VIFC chính là cầu nối đưa các quỹ đầu tư và ngân hàng quốc tế đến với hạ tầng cảng biển, logistics và công nghệ của VN với chi phí vốn hợp lý hơn.
Đáng chú ý, khung vận hành của VIFC đang được hoàn thiện với tốc độ rất nhanh. Cuối tháng 7, Hội đồng điều hành do Phó thủ tướng Nguyễn Văn Thắng làm chủ tịch đã ban hành quy chế hoạt động của Trung tâm, quy định rõ cơ chế đăng ký, công nhận tư cách thành viên, lựa chọn nhà đầu tư, hệ thống hành chính một cửa điện tử và cơ chế xử lý nhanh những vướng mắc chính sách phát sinh. Từ Nghị quyết 222 của Quốc hội, các nghị định hướng dẫn của Chính phủ đến quy chế vận hành cụ thể chỉ trong hơn một năm. Đây là tốc độ hoàn thiện thể chế được cộng đồng doanh nghiệp đánh giá rất cao và đã có ngay "trái ngọt" ban đầu: Trung tâm ghi nhận 20 tỉ USD vốn cam kết.
"Chúng ta nhìn thấy sự cộng hưởng của 3 lớp thể chế: Nghị quyết 20-NQ/TW mở không gian phát triển, cơ chế FTZ tạo giá trị gia tăng trên dòng hàng hóa và VIFC khơi thông dòng vốn. Cảng biển tạo dòng hàng, khu thương mại tự do tạo giá trị, trung tâm tài chính tạo nguồn lực - một hệ sinh thái hoàn chỉnh và là điều kiện thuận lợi chưa từng có để doanh nghiệp VN vươn lên thành tập đoàn kinh tế biển tầm khu vực", Chủ tịch VISABA nhận định.
Dư địa rất lớn mở không gian phát triển mới
Nói thêm về tình hình ngành công nghiệp hàng hải của VN, ông Phạm Quốc Long cho biết hiện nay hệ thống cảng biển nước ta đã có bước tiến rất dài. Cụm cảng nước sâu Cái Mép - Thị Vải nằm trong số ít cảng trên thế giới có khả năng tiếp nhận tàu container lớn nhất thế giới trên 250.000 DWT, hiện duy trì 48 tuyến dịch vụ quốc tế mỗi tuần, trong đó hơn 20 tuyến tàu mẹ đi thẳng châu Âu và 2 bờ nước Mỹ. Hiệu quả khai thác của Cái Mép từng được Ngân hàng Thế giới (WB) xếp trong nhóm cảng container dẫn đầu thế giới theo chỉ số CPPI. Đó là nền tảng mà nhiều quốc gia phải mất vài chục năm mới xây dựng được.

VN đang thúc đẩy các ngành kinh tế biển hiện đại, xanh, thông minh
Ảnh: V.G
PGS-TS Nguyễn Chu Hồi, nguyên Phó tổng cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo VN (nay là Cục Biển và Hải đảo VN thuộc Bộ NN-MT), đánh giá biển là một yếu tố vượt trội của nước ta nên khi tiến hành sắp xếp lại địa giới hành chính để phục vụ mục tiêu phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, lợi thế này đã được tính đến, hoàn toàn phù hợp với lợi thế của một quốc gia biển. Đặc biệt, sau ngày 1.7.2025, tỷ lệ các tỉnh có biển và không có biển hiện nay là 21/34, trước kia là 28/63.
"Sự điều chỉnh trên cho thấy T.Ư bắt đầu chuẩn bị phương án chiến lược trong dài hạn để VN phấn đấu trở thành quốc gia biển mạnh", ông Nguyễn Chu Hồi nói và phân tích: Có thể thấy rõ một số cơ hội chiến lược mở ra cho các địa phương và kinh tế quốc gia như mở rộng không gian để tăng dư địa phát triển, dễ dàng hơn trong hỗ trợ vùng miền và có thêm diện tích đủ lớn để hấp dẫn các nhà đầu tư chiến lược; hình thành một hệ sinh thái đa dụng cho phát triển đa dạng nhiều ngành kinh tế trên đơn vị hành chính mới; khắc phục tình trạng "chia cắt hành chính" trong quản lý môi trường lưu vực sông và biển theo cách tiếp cận "từ nguồn ra biển".
Mặt khác, việc sáp nhập các địa phương cũng phát huy tính đa dạng về văn hóa vùng miền, nhất là văn hóa đặc trưng biển, biến văn hóa không chỉ là động lực tinh thần mà còn là động lực phát triển. Đồng thời, tạo thuận lợi cho liên kết vùng, gắn phát triển miền núi, trung du, cao nguyên với dải đồng bằng ven biển, biển, đảo để tạo thế và lực mới trong phát triển kinh tế hướng biển, gắn kết và hỗ trợ bảo đảm quốc phòng an ninh.
Theo PGS-TS Nguyễn Chu Hồi, sau hợp nhất, dải ven biển và 21 tỉnh, thành phố có biển tiếp tục được xác định nằm trong vùng kinh tế động lực. Quy mô không gian biển tỉnh, thành phố có biển hoặc được giữ nguyên (như Quảng Ninh, Hải Phòng…) hoặc được mở rộng (như Khánh Hòa, TP.HCM, Cà Mau…). Điều này mang lại cơ hội xây dựng mô hình tăng trưởng mới trong quy hoạch điều chỉnh các tỉnh, thành phố có biển.
Đặc biệt, các địa phương nói trên đều xem kinh tế biển là lĩnh vực mũi nhọn, ưu tiên liên kết vùng núi rừng với vùng ven biển, biển, đảo để xây dựng các trung tâm logistics gắn với các cảng biển. Giải pháp chính được chú trọng là xây dựng đồng bộ hệ thống hạ tầng giao thông, hạ tầng số, hạ tầng tự nhiên để không chỉ liên kết vùng, mà còn rút ngắn khoảng cách trong quản lý, nâng cao hiệu suất, hiệu lực, hiệu năng của bộ máy hành chính...
Bên cạnh đó, các ngành kinh tế biển mới cũng được hình thành như: năng lượng biển tái tạo, năng lượng gió biển, năng lượng mặt trời trên biển, nhiên liệu sinh học biển, kinh tế bảo tồn, nghề cá giải trí, du lịch sinh thái biển, dược liệu biển, đô thị biển, công nghiệp văn hóa đặc trưng biển VN, carbon xanh… Đó cũng là các ngành, nghề kinh tế biển xanh, ít thải carbon, thân thiện môi trường và tiết kiệm tài nguyên biển vật chất...
"Những tiềm năng biển, đảo nói trên tạo tiền đề thúc đẩy các hoạt động khai thác biển xa, hình thành một lĩnh vực "kinh tế biển sâu" trong tương lai gần", PGS-TS Nguyễn Chu Hồi đúc kết.
Ra biển bằng "đôi chân thể chế và công nghệ"
Trước thời cơ đó, PGS-TS Nguyễn Chu Hồi cho rằng VN cần lựa chọn cách tiếp cận chiến lược để biến những tiềm năng này thành động lực tăng trưởng mới. Chúng ta phải ra biển bằng "đôi chân thể chế và công nghệ" để tạo đột phá chiến lược.
Trước hết, cần chú trọng đầu tư phát triển và ứng dụng các công nghệ biển tiên tiến, áp dụng chuyển đổi số và AI để làm chủ được các vùng biển xa, sâu hơn, không chỉ không gian trên mặt biển, mà còn không gian ngầm dưới khối nước biển. Các hoạt động khai thác biển sâu phải được công nghiệp hóa; thiết bị khai thác được tự động hóa, tự nâng, tự di chuyển.
Đối với việc phát triển bền vững biển đảo của nước ta, không chỉ hiểu đơn giản là sự cân bằng giữa 3 trụ cột truyền thống (kinh tế, xã hội và môi trường) theo cách tiếp cận lâu nay, mà cần phải bổ sung thêm trụ cột an ninh và quản trị biển. Quản trị không gian biển sẽ giúp chúng ta có tầm nhìn toàn diện hơn, chiến lược hơn, bền vững hơn; nhận diện được đầy đủ hơn các chiều cạnh của sự phát triển các ngành, lĩnh vực kinh tế biển mới và mô hình quản trị tổng hợp về biển, đảo và vùng ven biển.
PGS-TS Nguyễn Chu Hồi,
nguyên Phó tổng cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo VN
Cùng với đó, quy hoạch không gian biển và phân vùng chức năng biển phải được áp dụng ngay từ giai đoạn sớm của quá trình phát triển để giảm thiểu xung đột giữa các ngành/người trong sử dụng không gian ở cùng một vùng biển.
Đặc biệt, hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách chính là cách tháo gỡ rào cản để bứt phá. Ông Nguyễn Chu Hồi đề xuất trước mắt cần sớm điều chỉnh luật Tài nguyên, môi trường biển hải đảo để tạo điều kiện, khuyến khích và thu hút các nhà đầu tư chiến lược "tiến ra biển lớn", ưu tiên đầu tư phát triển năng lượng tái tạo, các ngành kinh tế biển mới như đã nói trên.
Đặc biệt, chúng ta phải biến những thay đổi về địa giới hành chính thành động lực phát triển dài hạn. "Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu phát triển kinh tế biển nhanh và bền vững trong một không gian biển được quản trị tổng hợp, liên ngành, liên thông và gắn kết nhau. Cùng với đó, phát triển không gian biển dựa trên nguyên tắc phải đặt các hoạt động kinh tế trong một không gian được sử dụng đa ngành, làm sao để các ngành kinh tế cùng tồn tại, hài hòa lợi ích; không xung đột với nhau, cùng phát triển, tối ưu hóa giá trị của một đơn vị không gian biển", ông Nguyễn Chu Hồi dẫn chứng.
Dưới góc độ đại diện doanh nghiệp, ông Phạm Quốc Long cũng nhìn nhận thể chế và thủ tục là một trong những thách thức đầu tiên cần tháo gỡ để VN đột phá kinh tế biển. Hiện nay, hàng hóa còn phải đi qua nhiều tầng nấc kiểm tra, làm tăng chi phí và thời gian, giảm sức hấp dẫn của VN trong vai trò trung tâm trung chuyển. Việc có thể làm ngay là đơn giản hóa thủ tục xuất nhập khẩu và kiểm tra chuyên ngành, nhất là với hàng nhập để gia công, tái chế rồi tái xuất. Đồng thời, vận hành cơ chế một cửa thực chất tại cảng; đẩy nhanh tiến độ các công trình kết nối đã được quy hoạch và sớm áp dụng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát cho các mô hình, lĩnh vực biển mới như nghị quyết đã cho phép.
Về dài hạn, cần cập nhật quy hoạch hệ thống cảng biển gắn với quy hoạch không gian biển quốc gia; phát triển đội tàu và công nghiệp đóng tàu theo tư duy hệ sinh thái đồng bộ từ cảng, logistics đến công nghiệp phụ trợ. Song song, xây dựng chiến lược đào tạo nhân lực hàng hải quốc gia; phát triển tài chính xanh và cơ chế chia sẻ rủi ro thực chất giữa nhà nước và doanh nghiệp cho các dự án hạ tầng biển vốn lớn, chu kỳ dài.

6 hours ago
10







