Warning: session_start(): open(/home/obslnetp/public_html/src/var/sessions/sess_04770dadd7449495138797ff2f1c37a3, O_RDWR) failed: Disk quota exceeded (122) in /home/obslnetp/public_html/src/bootstrap.php on line 59

Warning: session_start(): Failed to read session data: files (path: /home/obslnetp/public_html/src/var/sessions) in /home/obslnetp/public_html/src/bootstrap.php on line 59
'Bóc lột' trên YouTube - Tin Tức Cập Nhật Nhanh

'Bóc lột' trên YouTube

2 hours ago 3
Quảng Cáo

0943778078

Cuối năm ngoái, tôi hỗ trợ pháp lý cho một nghệ sĩ chống lại hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp với một doanh nghiệp khai thác nội dung số.

Anh là Nghệ sĩ Nhân dân, sở hữu nhãn hiệu riêng được Cục Sở hữu trí tuệ cấp văn bằng bảo hộ. Nhưng nhãn hiệu bị doanh nghiệp khai thác, chiếm dụng. Anh thành người "làm thuê" - sản xuất video cho kênh YouTube mang tên mình - chỉ để nhận khoản tiền quảng cáo ít ỏi, do doanh nghiệp phân phối lại.

Những chuyện tương tự không hiếm gặp. Mới đây, nhiều nghệ sĩ tiếp tục thể hiện bức xúc nhân dịp nhà chức trách khởi tố các vụ án về tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan theo Điều 225 Bộ luật Hình sự. Họ cho biết từng bị trục lợi tác quyền, đặc biệt là trên YouTube - nền tảng chia sẻ video trực tuyến lớn nhất hiện nay. Đến mức, khi đăng tải ca khúc tự sáng tác lên chính kênh YouTube của mình, họ cũng bị nền tảng này gắn cảnh báo vi phạm bản quyền.

Người ngoài ngành không khỏi thắc mắc: vì sao nghệ sĩ lại "mất" quyền với chính sản phẩm của mình, khi mà YouTube cho phép bất kỳ ai cũng có thể tự xuất bản nội dung, tự kiếm tiền từ chính các video, dựa trên lượt xem và quảng cáo.

Cơ chế hoạt động của YouTube là như vậy. Nhưng mắt xích quan trọng nằm ở Content ID - hệ thống tự động nhận diện và quản lý bản quyền nội dung trên nền tảng này.

Khi ai đó upload video lên YouTube, hệ thống Content ID sẽ quét để kiểm tra xem video có chứa nội dung thuộc bản quyền của người khác hay không. YouTube không mặc nhiên coi mọi trường hợp trùng khớp là căn cứ xóa kênh. Khi hệ thống phát hiện video có nội dung trùng với dữ liệu tham chiếu do chủ thể quyền gửi lên, video có thể bị chặn, bị theo dõi thống kê hoặc vẫn được cho hiển thị nhưng doanh thu quảng cáo chuyển cho bên đang quản lý quyền. Chỉ khi có yêu cầu gỡ bỏ bản quyền hợp lệ và phát sinh copyright strike (cảnh cáo bản quyền), việc xử lý kênh mới nặng hơn. Nếu một kênh nhận ba copyright strikes trong 90 ngày thì có thể bị xóa.

Tóm lại, Content ID hoạt động như một người gác cổng tự động: ai chứng minh được quyền sở hữu trước sẽ có quyền kiểm soát dòng tiền.

Vấn đề là không phải ai cũng tham gia được vào hệ thống Content ID. YouTube thường cấp quyền truy cập Content ID cho người dùng đáp ứng một số điều kiện như: sở hữu lượng lớn nội dung gốc; có kinh nghiệm thực thi và bảo vệ bản quyền...

Cơ chế này đẻ ra các MCN (Multi-Channel Network), mạng lưới quản lý đa kênh. MCN là công ty đứng giữa nhà sáng tạo (creator) và nền tảng YouTube. MCN sẽ "đi gom" ủy quyền từ các nghệ sĩ, nhà sáng tạo riêng lẻ, để đại diện hợp tác với YouTube. Họ thay mặt nghệ sĩ làm rất nhiều việc, từ xử lý các tranh chấp bản quyền, phát triển kênh, tối ưu hóa hiển thị, thu hút quảng cáo... và được chia sẻ lợi nhuận thu được từ YouTube.

MCN sinh ra để giải quyết tình trạng: nghệ sĩ có nội dung nhưng không có công cụ quản lý bản quyền; YouTube có công cụ nhưng không cấp cho tất cả. Mô hình hợp tác này tạo ra cơ chế win-win. Không phải nghệ sĩ nào cũng đủ thời gian, sự hiểu biết và nguồn lực để tự triển khai mọi thủ tục với nền tảng, nên không ít người ủy quyền cho các MCN.

Các MCN hoạt động đúng vai trò sẽ là cầu nối hoàn hảo giữa nghệ sĩ, nhà sáng tạo nội dung với nền tảng YouTube.

Xung đột lợi ích chỉ xảy ra khi việc ăn chia không sòng phẳng; hoặc MCN "nhận vơ", khai báo với YouTube ở phạm vi lớn hơn nhiều so với những gì họ thực sự sở hữu. Khi đó, các video mới đưa lên hệ thống sẽ bị Content ID quét và rất dễ dính vi phạm bản quyền. Đây là lý do gây ra tình trạng nghệ sĩ bị "mất" tác quyền với chính sản phẩm của mình.

Nghệ sĩ có quyền kháng cáo. Trên chính YouTube, họ có thể khiếu nại bằng một tuyên bố nhận quyền. Nhưng một khiếu nại như thế phải làm thủ tục thủ công với từng video, chờ hàng tuần đến hàng tháng. Khiếu nại thất bại thì kênh có thể bị cảnh cáo, thậm chí bị xóa trắng.

Nếu tranh chấp xảy ra, YouTube không có nhiệm vụ xác minh bản chất sự việc. Nền tảng yêu cầu các bên làm việc tại tòa và cung cấp bằng chứng từ tòa án. Cơ chế này đều khiến các nghệ sĩ, cá nhân trở thành bên yếu thế so với những MCN làm ăn bất chính.

Tình trạng trục lợi bản quyền âm nhạc trên nền tảng số không phải bây giờ mới xảy ra, và không xảy ra với riêng nghệ sĩ Việt Nam. Nhiều ca sĩ, nhạc sĩ nổi tiếng thế giới cũng thua thiệt về quyền kinh tế số.

Việt Nam không thờ ơ với vấn đề bản quyền. Các vụ án vừa khởi tố mới đây không tự nhiên mà có. Chúng nằm trong chủ trương được ban hành qua Công điện 38 của Thủ tướng. Trọng tâm lần này không chỉ là hàng giả, hàng nhái, mà mở rộng sang không gian số, phim lậu, nhạc lậu và xâm phạm bản quyền trên các nền tảng trực tuyến. Bảo vệ sở hữu trí tuệ được nhìn nhận như một ưu tiên chính sách quốc gia, không còn là chuyện riêng của ngành âm nhạc hay là lời kêu cứu của vài nghệ sĩ.

Luật Sở hữu trí tuệ vừa sửa đổi, có hiệu lực từ tháng 4 năm nay, cũng buộc các nền tảng số gánh trách nhiệm rõ ràng hơn trong việc bảo vệ bản quyền, cho phép tòa án nhanh chóng yêu cầu gỡ bỏ hoặc khóa nội dung vi phạm và nâng mức tiền bồi thường. Đó là một bước tiến. Nhưng luật sửa đổi không đồng nghĩa quyền lực trên nền tảng dịch chuyển ngay lập tức.

Nỗi sợ thật sự của nghệ sĩ vẫn còn đó. Video nằm trên kênh của chính họ, không ai gỡ, chỉ có dòng tiền âm thầm chảy sang túi kẻ khác, vì kẻ đó đã nhận vơ quyền sở hữu trong cỗ máy nhận diện.

Theo Trung tâm Bảo vệ quyền tác giả âm nhạc Việt Nam, riêng năm 2025, họ theo đuổi 79 vụ kiện và tranh chấp, mới giải quyết 34 vụ. Người gác cổng thật sự của không gian số lại là các nền tảng đặt ở nước ngoài, theo luật chơi riêng của họ. Cánh cửa nào cũng có nhưng cánh nào cũng mở chậm hoặc khép hờ.

Vì vậy, những bản án sắp tới, dù nghiêm tới đâu cũng chỉ xử lý chuyện đã rồi. Nó không trả lại những năm tháng và khoản tiền đã mất, cũng không thay đổi thế yếu của người nghệ sĩ trong lần va chạm kế tiếp. Khởi tố là một thanh kiếm còn thứ nghệ sĩ đang thiếu là tấm khiên.

Nếu để nguyên, hệ lụy không hề trừu tượng. Người viết nhạc, người hát, người dựng kênh, mỗi sáng mở bảng doanh thu lên cùng nỗi thấp thỏm: hôm nay, cái tên lạ nào sẽ nhảy vào nhận vơ tác phẩm của mình.

Việt Nam có tham vọng rõ ràng về một nền công nghiệp văn hóa. Nhưng một nền công nghiệp không khởi đầu từ những hợp đồng triệu đô hay sân khấu hoành tráng. Nó khởi đầu từ điều giản dị hơn: nghệ sĩ được yên tâm rằng thứ mình tạo ra phải thuộc về mình. Nếu không có sự bảo đảm tối thiểu đó, động lực sáng tạo sẽ bị ảnh hưởng.

Việc cần làm sau loạt vụ án này không phải là ngồi chờ bản án. Việt Nam nên làm việc với các nền tảng số, xây dựng thủ tục phản đối nhanh, rẻ và có thời hạn bắt buộc, cho phép tạm dừng một tuyên bố sở hữu đáng ngờ và phong tỏa khoản tiền tranh chấp cho tới khi làm rõ. Luật sửa đổi yêu cầu các nền tảng phải chịu trách nhiệm rõ ràng hơn, nhưng cần cơ chế thực thi cụ thể với từng nền tảng. Đây mới là điểm mấu chốt để buộc họ vận hành theo một quy trình phản đối phù hợp và cân bằng hơn.

Xa hơn, cần một hệ thống cơ sở dữ liệu xác thực quyền của quốc gia mạnh hơn. Chẳng hạn, Hàn Quốc có hệ thống quản lý quyền âm nhạc thông qua Korea Music Copyright Association (KOMCA), Nhật Bản có Japanese Society for Rights of Authors, Composers and Publishers (JASRAC). Các tổ chức này không chỉ thu tiền bản quyền mà còn xây dựng kho dữ liệu xác thực tác phẩm, giúp nền tảng và đối tác đối chiếu quyền sở hữu. Khi tranh chấp xuất hiện, câu hỏi không còn là "ai khai báo trước", mà là "ai có hồ sơ quyền được xác nhận".

Những hành động này sẽ tạo lập cơ chế để nghệ sĩ chứng minh được tác phẩm là của mình bằng một nguồn chính thức trong nước, thay vì lệ thuộc vào việc ai giành được công cụ khai báo trên nền tảng nước ngoài.

Hoàng Hà

Read Entire Article