Hiệp hội Kinh doanh vàng Việt Nam (VGTA) vừa kiến nghị Thủ tướng Chính phủ sớm cụ thể hóa chính sách quản lý hoạt động kinh doanh vàng trang sức, mỹ nghệ. Đáng chú ý, hiệp hội đề xuất cho phép doanh nghiệp (DN) vay vàng trong dân với lãi suất thỏa thuận để phục vụ sản xuất - kinh doanh, phù hợp quy định pháp luật dân sự. Đề xuất này đang thu hút nhiều ý kiến trái chiều.
Rất khó triển khai
Theo VGTA, cần xác định rõ các chủ thể tham gia giao dịch vàng, bao gồm cá nhân mua bán không mang tính kinh doanh, hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh vàng. Việc phân định này sẽ là cơ sở thống nhất trong áp dụng các quy định về hóa đơn, thuế, thanh toán, qua đó góp phần khơi thông nguồn vàng trong nền kinh tế.
Hiện nay, chưa có văn bản pháp lý cụ thể của Chính phủ hoặc cơ quan chức năng hướng dẫn việc mua, huy động nguồn vàng trong nước để làm nguyên liệu sản xuất, chế tác vàng trang sức, mỹ nghệ. Do thiếu hành lang pháp lý, hoạt động thu mua hoặc huy động vàng dưới nhiều hình thức (mua, vay…) luôn tiềm ẩn rủi ro pháp lý. Thực tế thời gian qua, nhiều DN đã bị xử phạt hành chính, thậm chí bị chuyển cơ quan chức năng để làm rõ các hoạt động mua bán, huy động vàng. "Chính phủ cần ban hành quy định, hướng dẫn cụ thể về cơ chế, cách thức huy động, thu mua nguồn vàng trong dân làm nguyên liệu đầu vào cho sản xuất, chế tác vàng trang sức, mỹ nghệ" - đại diện VGTA kiến nghị.

Các doanh nghiệp kim hoàn đang rất thiếu nguồn nguyên liệu để sản xuất vàng trang sức các loại. Ảnh: LAM GIANG
Trong khi đó, không ít người dân có vàng tích lũy tỏ ra băn khoăn trước đề xuất này. Ở chiều ngược lại, một số DN cho rằng phương án có thể khả thi nếu được thiết kế với cơ chế kiểm soát chặt chẽ.
Ông Nguyễn Ngọc Trọng, Giám đốc Công ty Vàng Đối tác mới NPJ, nhận định nếu tạm gác vấn đề kỹ thuật triển khai, việc DN tận dụng nguồn vàng trong dân cho sản xuất là một ý tưởng tích cực. Theo ông, nếu thực hiện được, giải pháp này có thể giúp hạn chế nhu cầu nhập khẩu vàng, từ đó giảm áp lực lên tỉ giá. Đồng thời, người dân nắm giữ vàng có thể sinh lợi từ tài sản tích trữ, còn DN có thêm nguồn nguyên liệu có nguồn gốc rõ ràng. "Tuy nhiên, khả năng triển khai trên thực tế là không đơn giản. Hiện DN vẫn có thể vay vàng từ người dân thông qua hợp đồng dân sự nhưng để nhân rộng thành cơ chế phổ biến như đề xuất của VGTA thì cần có quy định, hướng dẫn rõ ràng" - ông Trọng nói.
Theo vị này, bài học từ quá khứ cho thấy rủi ro không nhỏ. Trước đây, nhiều ngân hàng thương mại từng triển khai huy động và cho vay vàng nhưng sau đó phải dừng lại do biến động giá mạnh. "Vay vàng tiềm ẩn rủi ro rất lớn khi giá tăng. Với DN, nếu không quản trị tốt nguồn vốn bằng vàng, sẽ rất khó dám vay để phục vụ sản xuất" - ông Trọng nhấn mạnh.
Nhiều rủi ro nếu không kiểm soát tốt
Chuyên gia kinh tế TS Lê Bá Chí Nhân cũng bày tỏ quan điểm thận trọng, thậm chí trái chiều trước đề xuất cho phép DN vay vàng trong dân với lãi suất thỏa thuận.
Theo ông Nhân, Việt Nam từng trải qua giai đoạn "vàng hóa" nền kinh tế rất nặng nề. Khi đó, hệ thống ngân hàng huy động vàng, cho vay vàng; DN vay vàng để kinh doanh, còn người dân coi vàng như một phương tiện thanh toán song song với tiền đồng. Hệ quả là chính sách tiền tệ bị suy yếu, tỉ giá chịu áp lực lớn, trong khi hệ thống ngân hàng đối mặt với rủi ro mất cân đối kỳ hạn và biến động giá vàng.
Chính vì vậy, Nghị định 24/2012 được ban hành với mục tiêu chấm dứt tình trạng "vàng hóa", đưa vàng ra khỏi lưu thông tín dụng. "Nếu nay cho phép DN vay vàng trực tiếp từ người dân với lãi suất thỏa thuận, về bản chất là mở lại kênh tín dụng bằng vàng dưới một hình thức khác" - ông Nhân nhận định.
Theo chuyên gia này, đề xuất trên tiềm ẩn ít nhất 3 rủi ro vĩ mô lớn. Thứ nhất, rủi ro tài chính đối với DN. DN vay vàng nhưng doanh thu chủ yếu bằng tiền đồng. Khi giá vàng biến động mạnh, DN không chỉ chịu rủi ro kinh doanh mà còn phải gánh thêm rủi ro tài chính. Nếu mất khả năng thanh toán, thiệt hại sẽ chuyển sang phía người dân. Thứ hai, chính sách này có thể làm suy yếu vai trò của tiền đồng. "Khi vàng trở thành công cụ sinh lãi, người dân sẽ có xu hướng nắm giữ vàng thay vì gửi tiết kiệm bằng VNĐ, đi ngược lại nỗ lực củng cố niềm tin vào tiền đồng của Ngân hàng Nhà nước" - TS Lê Bá Chí Nhân phân tích.
Thứ ba, theo ông, rủi ro lớn hơn là khả năng hình thành một "thị trường tín dụng ngầm bằng vàng" rất khó kiểm soát. Khi đó, cơ quan quản lý gần như không thể giám sát quy mô, dòng chảy và mức độ rủi ro của các giao dịch.
Các chuyên gia cũng cho rằng vấn đề cốt lõi hiện nay không phải là tạo điều kiện để DN vay vàng trong dân mà là tìm cách chuyển hóa nguồn vàng này thành nguồn lực cho nền kinh tế một cách an toàn, thông qua hệ thống tài chính chính thức dưới sự điều tiết của Ngân hàng Nhà nước.
Ở góc nhìn khác, chuyên gia vàng Trần Duy Phương cho rằng ý tưởng huy động vàng trong dân để làm nguyên liệu sản xuất trang sức là hợp lý về mặt lý thuyết nhưng gặp nhiều vướng mắc khi triển khai thực tế.
Theo ông Phương, vàng trong dân tồn tại dưới nhiều dạng như vàng miếng, vàng nhẫn và vàng trang sức. Nếu huy động để nấu lại làm nguyên liệu rồi chế tác thành sản phẩm khác, bài toán hoàn trả sẽ rất phức tạp. "Người dân đang nắm giữ vàng miếng, vàng nhẫn hay vàng trang sức, khi nhận lại sẽ nhận dưới hình thức nào?" - ông đặt vấn đề.
Ngoài ra, việc kiểm định chất lượng vàng cũng không đơn giản. Trừ vàng miếng có thương hiệu, phần lớn vàng nhẫn và vàng trang sức trên thị trường không đồng nhất về tiêu chuẩn. Khi huy động, DN phải kiểm định, nấu lại để xác định hàm lượng, kéo theo chi phí và thời gian phát sinh đáng kể. Ngay từ đầu, cũng chưa có câu trả lời rõ ràng về việc sẽ huy động loại vàng nào hay chấp nhận tất cả các loại.
Quan trọng hơn, khi vàng được đưa vào sản xuất, tài sản ban đầu sẽ không còn giữ nguyên trạng mà bị nấu chảy, chế tác thành sản phẩm khác. Điều này dẫn đến rủi ro lớn về cân đối trạng thái. "Khi người dân rút vàng, DN phải có vàng để hoàn trả, trong khi giá vàng có thể biến động mạnh. Ví dụ, DN huy động vàng ở mức 170 triệu đồng/lượng nhưng đến khi đáo hạn giá tăng lên 200 triệu đồng/lượng, việc cân đối nguồn để trả nợ sẽ trở nên rất khó khăn" - ông Phương phân tích.
Rất khác với gửi tiền ngân hàng
Khác với gửi tiền tại ngân hàng, các khoản cho vay vàng dân sự không có bảo hiểm, không có cơ chế giám sát hay chuẩn mực quản trị rủi ro. Khi DN vỡ nợ, người cho vay gần như phải tự gánh toàn bộ thiệt hại. Ngoài ra, khi giá vàng biến động mạnh, các tranh chấp liên quan đến quy đổi giá trị, thời điểm thanh toán, lãi suất hay chất lượng vàng có thể phát sinh phức tạp, gây áp lực lên hệ thống tòa án.

1 hour ago
2







