Quảng Cáo
0943778078
Người mắc bệnh lý về máu, phụ nữ mang thai và bệnh nhân ung thư không nên tiêm huyết tương giàu tiểu cầu do tiềm ẩn nguy cơ biến chứng.
Tiêm huyết tương giàu tiểu cầu (Platelet Rich Plasma - PRP) là phương pháp sử dụng máu tự thân của người bệnh, sau đó đặt vào máy quay ly tâm để tách lấy phần huyết tương có nồng độ tiểu cầu cao.
ThS.BS Vũ Thị Huyền, Khoa Cơ Xương Khớp, Phòng khám Đa khoa Tâm Anh Cầu Giấy, cho biết tiểu cầu không chỉ đóng vai trò rất quan trọng đối với quá trình đông máu, cầm máu mà còn chứa nhiều yếu tố tăng trưởng và protein sinh học tham gia vào quá trình làm lành, sửa chữa các tổn thương.
Tiêm huyết tương giàu tiểu cầu thường được chỉ định với các bệnh nhân thoái hóa khớp giai đoạn đầu (đặc biệt là khớp gối, khớp vai), viêm gân mạn tính, tổn thương dây chằng, và một số chấn thương cơ, mô mềm. Khi được tiêm vào vùng tổn thương, huyết tương giàu tiểu cầu sẽ hỗ trợ tái tạo mô, giảm viêm và thúc đẩy quá trình chữa lành, hỗ trợ phục hồi sụn khớp, gân, dây chằng, cải thiện môi trường nội khớp, giúp giảm triệu chứng và làm chậm tiến triển thoái hóa khớp.
Bác sĩ Huyền cho hay dù được đánh giá là phương pháp có độ an toàn tương đối cao do sử dụng máu tự thân, PRP vẫn có thể giảm hiệu quả điều trị hoặc tăng nguy cơ biến chứng ở một số nhóm người bệnh.
Bác sĩ khám và tư vấn phương pháp tiêm huyết tương giàu tiểu cầu cho bệnh nhân thoái hóa khớp. Ảnh minh họa: Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh
Người mắc bệnh lý về máu
Hiệu quả của PRP phụ thuộc nhiều vào số lượng và chức năng tiểu cầu. Vì vậy, người mắc các tình trạng như giảm tiểu cầu, rối loạn chức năng tiểu cầu, rối loạn đông máu hoặc thiếu máu nặng có thể không phù hợp để thực hiện phương pháp này. Do hiệu quả điều trị có thể giảm và tiềm ẩn nguy cơ biến chứng.
PRP cần sử dụng máu tự thân để xử lý và tách chiết trước khi tiêm. Với người thiếu máu mức độ nặng hoặc thể trạng suy kiệt, việc lấy máu có thể ảnh hưởng đến tình trạng toàn thân cũng như chất lượng chế phẩm PRP thu được.
Do đó, trước khi chỉ định thực hiện PRP, bác sĩ cần đánh giá toàn bộ thể trạng, đặc biệt là các chỉ số huyết học của bệnh nhân nhằm bảo đảm tính an toàn và hiệu quả điều trị.
Người đang sử dụng thuốc chống đông hoặc kháng kết tập tiểu cầu
Các thuốc này có thể ảnh hưởng đến chức năng tiểu cầu và quá trình đông máu, làm giảm hiệu quả của PRP hoặc tăng nguy cơ chảy máu sau tiêm. Người bệnh lưu ý không được tự ý ngưng thuốc trước khi thực hiện PRP nếu chưa có chỉ định từ bác sĩ điều trị.
PRP cũng không được khuyến cáo thực hiện ở người đang có tình trạng sốt, nhiễm trùng cấp tính hoặc nhiễm trùng tại chỗ tiêm. Trong những trường hợp này, can thiệp tiêm có thể làm tăng nguy cơ lan rộng nhiễm trùng khiến tổn thương tại chỗ trở nên nghiêm trọng hơn.
Người mắc bệnh tự miễn
Bệnh nhân đang điều trị các bệnh tự miễn như viêm khớp dạng thấp, lupus ban đỏ, viêm cột sống dính khớp có thể có đáp ứng điều trị PRP khác nhau tùy theo tình trạng bệnh và thuốc đang sử dụng.
Ngoài ra, nhiều người bệnh đang điều trị kéo dài bằng corticosteroid, thuốc sinh học hoặc thuốc ức chế miễn dịch, làm tăng nguy cơ nhiễm trùng và có thể ảnh hưởng đến quá trình phục hồi mô sau can thiệp. Phụ nữ mang thai và bệnh nhân ung thư cũng là nhóm cần được bác sĩ chuyên khoa đánh giá kỹ trước khi thực hiện tiêm PRP, do hiện vẫn còn nhiều vấn đề về tính an toàn và nguy cơ ảnh hưởng đến quá trình bệnh lý.
Dù sử dụng máu tự thân, PRP vẫn là một thủ thuật y khoa xâm lấn. Người bệnh nên đến bệnh viện để được bác sĩ chuyên khoa đánh giá kỹ càng và chỉ định phù hợp. Quá trình tiêm phải thực hiện trong điều kiện vô khuẩn, được thực hiện và theo dõi sau tiêm bởi bác sĩ chuyên khoa.
Hiếu Nguyễn








